 |
|
|
Bản đồ Dinh
phủ các Chúa Nguyễn (1558-1775) |
|
Huế là một thành phố của Bảo tàng. Qúa trình hội
tụ mấy trăm năm lịch sử đã khiến vùng đất này có một bề dày văn
hóa sâu thẳm. Chỉ nói về cổ tích, ở Huế đi đâu cũng có thể gặp
những di tích, di vật hàm chứa những huyền thoại, những câu
chuyện lịch sử kì thú. Nhưng có một điều, do là kinh đô cuối
cùng của Việt Nam nên các di tích liên quan đến vương triều
Nguyễn dường như chiếm đa số, chúng "lấn át" các di tích thuộc
các thời kỳ khác, khiến người ta quên mất hoặc khó nhận ra rằng,
Huế không chỉ là mảnh đất của vương triều cuối cùng mà còn là
kinh đô của triều Tây Sơn, và đặc biệt là thủ phủ-đô thành suốt
hơn 100 năm của các chúa Nguyễn.
Trong bài viết này, với nỗ lực tạo nên một
cái nhìn khái quát về hệ thống di tích thời chúa Nguyễn, chúng
tôi những mong người ta sẽ có một cái nhìn khác về những di sản
không phải hiếm lắm những rất quý này. Dĩ nhiên là trong khuôn
khổ một bài viết với dung lượng có hạn, chúng tôi chỉ có thể
thống kê những tích, di vật tiêu biểu.
A. HỆ THỐNG CÁC DI TÍCH
I. Dấu tích hệ thống Thủ phủ thời các Chúa
I.1. Phủ Phước Yên (1626-1636):
| |
 |
|
Sơ đồ vị trí Dinh Ái Tử |
Phủ Phước Yên là thủ phủ thứ tư của các chúa
Nguyễn ở Đàng Trong (sau ái Tử, Trà Bát và Dinh Cát bên sông
Thạch Hãn), nhưng là thủ phủ đầu tiên trên đất Thừa Thiên Huế.
Phủ do chúa Nguyễn Phúc Nguyên lập và tuy chỉ tồn tại 10 năm
nhưng đến nay tại khu vực phủ đã từng tọa lạc vẫn còn tồn tại
một số dấu vết lịch sử. Trong loạt bài viết về hệ thống các thủ
phủ chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chúng tôi đã đề cập đến vấn đề này
(1), ở đây chỉ xin trình bày sơ đồ khu vực thủ phủ Phước Yên có
xác định các dấu vết lịch sử mà chúng tôi đã khảo sát và ghi
nhận lại.
Chúng tôi cho rằng, với ý nghĩa quan trọng là đánh dấu
bước chuyển biến trong quá trình chuyển hướng xây
dựng thủ phủ
thành một đô thị đầu não của Đàng Trong, những di tích liên quan
đến phủ Phước Yên xứng đáng được trân trọng và bảo tồn.
I.2. Phủ Kim Long (1636-1687):
 |
|
|
Sơ đồ thủ phủ
Kim Long |
|
Tồn tại trong suốt 51 năm (1636-1687) qua
hai đời chúa Nguyễn Phúc Lan và Nguyễn Phúc Tần, thủ phủ Kim
Long là thời kỳ có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình "tìm
ra Huế". Kim Long đã từng được giáo sỹ A.de Rhose miêu tả kỹ và
gọi là "Thành phố lớn". Các dấu vết về thời kỳ này tuy không còn
nhiều trên thực địa do bị phá hủy qua thời gian, nhưng mối quan
hệ của thủ phủ này với chùa Thiên Mụ, cảng Thanh Hà... vẫn giúp
chúng ta có thể lần tìm ra nhiều vấn đề quan trọng. Cũng do vai
trò đặc biệt của thời kỳ Kim Long mà trong một số nghiên cứu
trước đây, chúng tôi đã cho rằng, thời điểm thành lập thủ phủ
Kim Long chính là thời điểm ra đời của đô thị Huế (2).
I.3. Phủ Bác Vọng (1712-1738):
Đây là một thời kỳ có thể xem là "lạ lùng"
trong quá trình tồn tại và phát triển của các thủ phủ chúa
Nguyễn. Sau khi đã tìm ra được vùng đất Phú Xuân (năm 1687),
chúa Nguyễn lại rời bỏ mảnh đất đế vương này để chuyển ra làng
Bác Vọng bên sông Bồ. Cũng gần giống như thời kỳ Phước Yên,
trong 26 năm xây dựng thủ phủ tại đây, các chúa Nguyễn đã để lại
một số dấu vết lịch sử, tuy không nhiều. Trong sơ đồ kèm theo,
chúng tôi đã thể hiện rõ các vết tích này (3). Những dấu tích
này cũng rất nên được bảo tồn, gìn giữ.
I.4. Phủ Phú Xuân lần thứ nhất (1687-1712) và Đô
thành Phú Xuân (1738-1775):
| |
 |
|
Sơ đồ thủ phủ Phú Xuân
năm 1738-1775 |
Dĩ nhiên đây là các thời kỳ quan trọng nhất
trong quá trình xây dựng hệ thống thủ phủ của các chúa Nguyễn, đặc biệt là thời kỳ Đô thành Phú Xuân (1738-1775). Căn cứ vào
các tài liệu lịch sử và kết quả nghiên cứu của bản thân, chúng
tôi cho rằng thời kỳ Phú Xuân đã để những di sản rất lớn cho các
giai đoạn sau, nhất là về mặt ý tưởng quy
hoạch đô thị-một đô thị phong thủy-đô thị thiên nhiên điển hình của phương Đông (4).
Triều Nguyễn, sau khi thành lập và quyết định đóng đô tại đây đã
biết kế thừa và phát huy những thành tựu này để tạo nên một kinh
đô Phú Xuân quy mô hơn, hoàn chỉnh hơn.
II. Hệ thống Lăng mộ
Sự "lấn át" của các di tích triều Nguyễn
cũng thấy rõ trên lĩnh vực này, tuy nhiên thời chúa Nguyễn vẫn
để lại một số ngôi lăng mộ có quy mô đáng kể và rất đáng để
chúng ta nghiên cứu; đó là hệ thống lăng mộ của các chúa Nguyễn
và các Phi (đặc biệt là mộ bà Chiêu Nghi Trần Thị Xạ), lăng Ba
Vành, tháp mộ các hòa thượng nổi tiếng...
II.1. Lăng các chúa Nguyễn và các Phi:
Đó là 9 khu lăng
mộ của 9 đời chúa Nguyễn gồm: lăng Trường Cơ của chúa Nguyễn
Hoàng, lăng Trường Diễn của chúa Nguyễn Phúc Nguyên, lăng Trường
Diên của chúa Nguyễn Phúc Lan, lăng Trường Hưng của chúa Nguyễn
Phúc Tần, lăng Trường Mậu của chúa Nguyễn Phúc Thái, lăng Trường
Thanh của chúa Nguyễn Phúc Chu, lăng Trường Phong của chúa
Nguyễn Phúc Thụ, lăng Trường Thái của chúa Nguyễn Phúc Khoát và
lăng Trường Thiệu của chúa Nguyễn Phúc Thuần. Cũng giống như
lăng mộ các vua Nguyễn, hệ thống lăng mộ các chúa Nguyễn đều nằm
ở khu vực phía tây Huế dọc hai bên bờ sông Hương hoặc hai chi
lưu lớn của nó là Tả Trạch và Hữu Trạch. Bên cạnh các lăng này
là lăng các Phi vợ chúa; 11 khu lăng phi này về cơ bản có cấu
trúc tương tự lăng các chúa, chúng đều có các đặc điểm sau đây:
- Nhìn chung về
mặt quy mô và kiểu thức xây dựng, hệ thống lăng mộ các chúa
Nguyễn và các Phi đều tương tự như nhau. Mỗi lăng mộ đều có hai
vòng thành hình chữ nhật bao bọc, vòng ngoài xây bằng đá bazan
nhưng phần mũ thành xây bằng gạch vồ, vòng trong xây hoàn toàn
bằng gạch (trừ lăng Trường Diễn). Chiều cao của các vòng thành
tương ứng đều như nhau (dù hiện tại trên thực tế không hẳn như
vậy). Phần mộ đều xây thấp, phẳng với 2 tầng, xây theo lối giật
cấp. Trước mộ có hương án, sau cổng có bình phong trang trí long
mã và rồng. Sau lưng mộ cũng có bình phong trang trí rồng cùng
kiểu, ghép nổi mành sành sứ hoặc đắp nổi vôi vữa. Sự giống nhau
này cũng rất dễ hiểu vì tất cả các lăng trên đều được tái xây
dựng và tu bổ trong các thời điểm gần tương tự như nhau (Trùng
kiến đầu thời Gia Long [trong 2 năm 1808-1809], tu sửa năm Minh
Mạng 21 [1840] và đầu thời Thiệu Trị [1841]).
 |
|
|
Lăng Chúa |
|
- Tuy quy mô nhỏ
hơn, cách thức xây dựng cũng đơn giản hơn nhiều so với lăng các
vua Nguyễn về sau, nhưng lăng mộ các chúa đều có vị trí rất lý
tưởng và hoàn toàn tuân thủ các quy tắc về phong thủy địa lý.
Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua những đặc điểm chung của
chúng dưới đây:
* Các lăng mộ
đều tọa lạc trên đồi cao, có núi dựa lưng, trước mặt đều có hồ
nước, khe suối hoặc đồng ruộng làm “tụ thủy”. “Minh đường” của
lăng thoáng rộng và có bình phong ngoài là núi tự nhiên che chắn
(tức Triều sơn). Hai bên đều có núi chầu về làm thế “tay ngai”
(Tả Long, Hữu Hổ)…
* Các lăng chúa
ở vị trí tương đối xa nhau và đều cách trung tâm Huế khá xa.
Điều này chứng tỏ các chúa Nguyễn đã bỏ rất nhiều công sức cho
việc tìm kiếm mảnh đất làm “ngôi nhà ở thế giới bên kia” cho bản
thân.
* Hướng của các
lăng rất phong phú chứ không chỉ tuân theo nguyên tắc “Nam diện”
(xoay mặt về hướng nam) của đại đa số các công trình kiến trúc
(cả kiến trúc nhà cửa lẫn kiến trúc lăng mộ) thời vua Nguyễn về
sau. Đây là điều hết sức lý thú đối với những ai muốn tìm hiểu
phong thủy thời Nguyễn.
- So sánh kiểu
thức xây dựng lăng mộ của các chúa Nguyễn với lăng mộ bà Chiêu
Nghi Trần Thị Xạ, khu lăng mộ duy nhất thời chúa Nguyễn được cho
là còn tồn tại khá nguyên vẹn đến nay, chúng tôi cho rằng, khi
tái xây dựng lăng mộ các chúa Nguyễn ở thời đầu triều Nguyễn
(1802-1945) người ta đã mô phỏng theo kiểu thức lăng Chiêu Nghi
để thiết kế, xây dựng. Và kiểu thức lăng mộ này có thể cũng
chính là kiểu thức lăng mộ thời chúa Nguyễn (dành cho bậc vua
chúa).
II.2. Lăng mộ Chiêu Nghi:
Lăng Chiêu Nghi
là lăng của bà Phi Trần Thị Xạ, vợ chúa Nguyễn Phúc Khoát, được
xây dựng năm 1751. Vị trí của lăng hiện nay thuộc xã Thủy Xuân,
thành phố Huế, ngay bên trái chùa Từ Hiếu. Quy thức ngôi mộ này
cũng gồm 2 vòng tường bao bọc, mộ xây 2 cấp tương tự lăng các
chúa Nguyễn. Nhưng điều kỳ lạ là vào năm 1790, khi tàn phá lăng
mộ của tất cả các chúa Nguyễn và gia đình họ, nhà Tây Sơn lại
không đụng chạm đến khu lăng này. Điểm đáng chú ý là phía trước
ngôi mộ có một tấm bia đá rất lớn, trên bia còn ghi bài văn tế
chủ nhân. Sự giống nhau của lăng Chiêu Nghi với quy thức lăng mộ
các chúa và các Phi chứng tỏ nó đã từng được các vua Nguyễn chọn
làm mẫu để phục hồi các lăng mộ của tổ tiên họ.
II.3. Lăng Cơ Thánh (Lăng Sọ) (5):
Đây là ngôi lăng của thân phụ vua Gia
Long, được xây từ năm 1765, năm 1790 bị Tây Sơn quật phá, năm
1808 được triều Nguyễn cho xây lại ngay trên vị trí cũ. Sách
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ do Nội Các triều Nguyễn biên
soạn, chép về ngôi lăng mộ này như sau: “ Lăng Hưng Tổ Hiếu
Khang Hoàng Đế gọi là lăng Cơ Thánh, ở núi Hưng Nghiệp phủ Thừa
Thiên. Bảo thành cao 6 thước 3 tấc, chu vi 28 trượng, xây gạch,
trước mở một cửa, còn đằng trước thì làm bái đình hai cấp, tả
hữu có lan can, phía đông làm điện Canh Y, phía tây làm Thần
Khố, đều ba gian". Có lẽ do được xây dựng ngay đầu triều
Nguyễn nên phong cách xây dựng lăng còn mang nhiều dấu ấn của
thời các chúa Nguyễn.
 |
|
|
Bình phong và
cổng lăng Cơ Thánh |
|
Xét về
cấu trúc có thể chia lăng Cơ Thánh làm 3 phần: Khu vực phụ thuộc
bên ngoài gồm điện Canh Y, Thần Khố và miếu Thổ thần; khu vực
Bái Đình và khu Bửu thành, Huyền cung. Cách cấu trúc với 3 bộ
phận như trên về hình thức có vẻ tương tự cách cấu trúc các khu
lăng tẩm triều Nguyễn, nhưng trên thực tế lại gần gũi hơn với
phong cách lăng mộ thời chúa Nguyễn, dù lăng mộ các chúa chỉ gồm
2 bộ phận là Bái đình và khu Bửu thành, Huyền cung. Khảo sát
lăng mộ các chúa Nguyễn, chúng tôi nhận thấy, từ cách bố trí và
tỷ lệ giữa các công trình đến cách xây Bửu thành thô và rất dày
cùng phần Bửu đỉnh với các các tầng hình khối chữ nhật của chúng
so với lăng Cơ Thánh đều có rất nhiều nét tương đồng. Còn các
lăng tẩm của các vua Nguyễn ở giai đoạn sau đã thiên về phong
cách thanh mảnh; các công trình thờ cúng và tưởng niệm (như điện
thờ, tượng đá người và thú, nhà bia...) đã xuất hiện đầy đủ và
cấu thành một bộ phận không thể thiếu trong cấu trúc lăng. Tuy
nhiên, đây mới là những cảm nhận bước đầu.
II.4. Mộ mẹ Tể tướng Nguyễn Văn Thành:
Đây là một trong những ngôi mộ lớn được xây
dựng đầu triều Nguyễn (năm 1810). Mộ nằm ở vùng núi Châu Ê, cách
lăng Khải Định khoảng 300m về phía Tây-Bắc. Mộ có hình dáng như
một con voi đang phủ phục (cũng có người cho rằng nó co hình yên
ngựa-một kiểu lăng mộ khá phổ biến của người Tàu); bên ngoài có
hai vòng tường thành xây rất đồ sộ bao bọc, tường trong có chỗ
dày gần 2m, tường ngoài dày hơn 1m. Đáng chú ý là trên hai trụ
phía trước có một đôi lân đắp vôi vữa, cách tạo dáng cũng còn
khá thô mộc và tấm bia mộ bằng đá trên đầu vẫn đề 2 chữ "Việt
Cố". Chúng tôi cho rằng, tuy đã được xây dựng trong thời vương
triều Nguyễn nhưng ngôi mộ này vẫn mang đậm phong cách của thời
các chúa (6).
Ngoài ra, khi tham khảo thêm lăng mộ 2 bà
Phi ở Quảng Nam (lăng Vĩnh Diễn và Vĩnh Diện-lăng mộ hai bà phi
vợ chúa Nguyễn Phúc Nguyên và Nguyễn Phúc Lan), chúng tôi cũng
thấy rằng, kiểu thức mộ với 2 lớp tường thành thô dày bao bọc
vốn có từ thời chúa Nguyễn, dù đã trải qua không ít lần tu bổ.
Tuy nhiên kiểu nấm mộ xây khối hình chữ nhật có mái của hai ngôi
lăng này thì chúng tôi không chắc chắn là đã có từ thời kỳ này,
mà có thể đã được xây lại trong thời các vua Nguyễn (xem ảnh).
III. Hệ thống kiến trúc tôn giáo
III.1. Chùa:
Hầu hết những ngôi chùa lớn hiện
nay của Huế đều được xây dựng từ thời
các chúa Nguyễn, nhưng trải qua thời gian chúng đã được tu sửa
và thay đổi nhiều về cấu trúc. Theo chúng tôi có một số ngôi
chùa rất đáng chú ý như Thiên Mụ, Thánh Duyên, Hà Trung, Quốc
Ân...,nếu khảo sát kỹ hẳn còn có thể nhận diện các yếu tố mỹ
thuật và kiến trúc vốn có từ giai đoạn Tiền Nguyễn.
-Thiên Mụ:
Thiên Mụ là ngôi cổ tự bậc nhất của
đất Huế, được Tiên chúa Nguyễn Hoàng xây
dựng từ năm 1601. Đây cũng là ngôi chùa đã có hàng trăm năm
gắn bó thăng trầm cùng dòng họ Nguyễn nên các "dấu tích" của
dòng họ này đối với Thiên Mụ khá nhiều. Đến nay chùa vẫn giữ
được một số bảo vật từ thời chúa Nguyễn, như chiếc chuông đồng
đúc năm 1710, con rùa đá và bia đá cũng do chúa Nguyễn Phúc Chu
dựng năm 1714, chiếc khánh đồng đúc từ năm 1677..Xét về mặt
quy hoạch, cấu trúc chùa Thiên Mụ cũng khác hẳn các ngôi chùa
khác ở Huế. Cũng có thể đây chính là cách quy hoạch được giữ lại
từ thời các chúa Nguyễn.
-Chùa Thánh Duyên:
Ngôi chùa cổ trên núi Túy Vân
này cũng có từ thời chúa Nguyễn, thậm
chí có từ sớm hơn rất nhiều. Suốt dưới thời chúa Nguyễn, chùa là
một trong những quốc tự của nước ta. Diện mạo, cấu trúc chùa
cũng vì thế mà đã biến đổi rất nhiều. Tuy nhiên, nếu khảo sát kỹ
chúng ta nhất định sẽ tìm ra nhiều lưu ảnh của thời các chúa.
Nếu so sánh diện mạo kiến trúc chùa hiện nay với hình ảnh của
chùa được vẽ trên các dĩa sứ cổ có từ thời các chúa Nguyễn (xem
ảnh), hẳn chúng ta sẽ nhận ra không ít điểm khác biệt.
-Chùa Hà Trung: Đây cũng là một ngôi chùa cổ từng
in dấu của vị tổ sư thiền phái Tào Động,
hoà thượng Thạch Liêm Thích Đại Sán. Hiện chùa vẫn giữ được bức
tượng Quan âm Bồ Tát bằng đá vốn đưa từ Trung Quốc qua.
III.2. Nhà thờ công giáo:
Cũng như các ngôi chùa lớn ở Huế, phần lớn
các nhà thờ công giáo ở vùng đất này được lập trong thời các
chúa Nguyễn, tuy nhiên các nhà thờ này đều đã thay đổi diện mạo
rất lớn. Bởi vậy, ít ai ngờ nhà thờ Phủ Cam vốn được xây dựng từ
năm 1680, nhà thờ Kim Long, nhà thờ Phường Đúc thì còn có sớm
hơn.
III.3. Đền thờ:
Là những công trình phục vụ tín ngưỡng mang
đậm sắc thái dân gian, hệ thống đền thờ được các tư liệu văn
hiến mô tả khá đầy đủ qua suốt các thời kỳ. Trong thời các chúa,
hệ thống đền thờ chắc chắn tồn tại rất phong phú. Tuy nhiên đến
nay cũng chưa có một công trình nào đã thống kê đầy đủ về loại
hình kiến trúc tín ngưỡng độc đáo này. ở đây chúng tôi chỉ xin
lưu ý một điều là, việc nghiên cứu về hệ thống đền thờ này có
thể giúp chúng ta nhìn nhận rõ quá trình Việt hoá và tích hợp
những vị thần Champa và có nguồn gốc bản địa vào hệ thống thần
thánh của người Việt. Đáng chú ý nhất có lẽ là đền Ngọc Trản hay
điện Hòn Chén. Đã có nhiều nghiên cứu về ngôi đền độc đáo này,
nhưng ít người chú ý đến một sự kiện, theo tôi là rất quan
trọng: năm 1695, chúa Nguyễn đã từng bắt vua Chàm là Bà Tranh về
giam lỏng tại ngôi đền này cho đến khi ông ta chết tại đây mấy
tháng sau. Dấu ấn của văn hóa Champa hẳn sẽ đậm đặc lên sau sự
kiện này.
IV. Các di tích khác
| |
 |
|
Cầu ngói Thanh Toàn |
Ngoài những hệ thống di tích trên, tại khu
vực Huế vẫn còn rất nhiều di tích khác đáng để chúng ta đầu tư
nghiên cứu, như cảng cổ Thanh Hà-Bao Vinh, các hành cung, ly
cung của các chúa, hệ thống đồn luỹ phòng thủ. Rất tiếc là ngoài
phố cảng Thanh Hà ra, thì hầu như các di tích còn lại chưa được
quan tâm nghiên cứu đúng mức.
Bên các hệ thống di tích mang tính chất cung
đình của thời các chúa như đã kể trên cũng cần chú ý đến các di
tích dân gian-mảng di tích còn tồn tại phong phú đa dạng hơn
nhiều, như hệ thống đình, đền miếu dân gian, cầu cống, chợ (nhất
là chợ phiên)... Đáng tiếc là ngoài một số di tích rất đặc biệt
như Cầu Ngói Thanh Toàn, đã khá nổi tiếng và được nhiều người
quan tâm, phần lớn các di tích còn lại vẫn ít được chú ý và
dường như đang"chìm sâu" trong quên lãng.
B. MỘT SỐ DI VẬT TIÊU BIỂU
Gắn bó cùng hệ thống các di tích hoặc tồn
tại độc lập là không ít các di vật của thời chúa Nguyễn. Chúng
tôi cho rằng, một số các di vật trong số này thực sự là những
báu vật không chỉ của Huế mà còn là của quốc gia, chúng là những
bằng chứng lịch sử vô giá không thể thay thế về của thời kỳ này.
I. Hệ thống đồ đồng
 |
|
|
Vạc đồng đúc
năm 1660 |
|
I.1.
Vạc: Đây là 11 chiếc vạc được đúc trong thế
kỷ XVII, từ năm 1631-1684, thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên
(1613-1635) và Nguyễn Phúc Tần (1648-1687). Nghĩa là khi ấy, Thủ
phủ của họ Nguyễn còn đặt tại Phước Yên (1626-1636) và Kim Long
(1636-1687) chứ chưa chuyển về Phú Xuân. Không rõ, nguyên xưa
những chiếc vạc trên được đặt tại phủ chúa hay chỗ nào, nhưng
hiện nay cả 11 chiếc vạc này đều đang được đặt tại các di tích
của triều Nguyễn: 7 chiếc bên trong hoàng cung, 3 chiếc trước
Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, 1 chiếc tại lăng Đồng Khánh.
Tất cả các chiếc vạc trên đều có kích thước rất lớn, trọng lượng
từ vài trăm cân đến vài ngàn cân. Tương truyền, tác giả của
chúng lại là một ông Tây, một người Bồ Đào Nha lai ấn Độ tên là
Joaz da Cruz (hay Jean de la Croix) đã từng sống tại Huế trong
thời gian trên. Cruz đến Huế vào nửa đầu thế kỷ XVII, sống tại
Phường Đúc (khu vực đối diện phía thượng nguồn chùa Thiên Mụ),
lấy vợ người Việt và được xem là người sáng lập ra ngành đúc
đồng nổi tiếng của vùng đất này. Ông cùng con trai đã giúp chúa
Nguyễn đúc rất nhiều vũ khí để phục vụ chiến tranh chống chúa
Trịnh ở phía Bắc và công cuộc mở đất ở phía Nam. Để kỷ niệm cho
các lần chiến thắng và cũng là để biểu thị cho uy quyền cùng sự
trường tồn của dòng họ, chúa đã sai ông đúc những chiếc vạc to
lớn này.
| |
 |
|
Vạc đồng đúc năm
1636 |
Tuy nhiên, theo chúng tôi, chiếc vạc đầu tiên thì
chắc chưa có bàn tay và sự chỉ đạo của Cruz vì nó quá khác những
chiếc còn lại và còn bởi từ hình dáng đến kiểu thức trang trí
đều có vẻ rất thuần Việt. Vạc được đúc năm 1631, thời chúa
Nguyễn Phúc Nguyên, hiện đang được đặt ngay trước hiên
điện Long
An (hiện là tòa nhà trưng bày chính của
Bảo tàng Mỹ thuật Cung
đình Huế). Đây là một chiếc vạc có hình dáng rất lạ-tương tự một
chiếc nồi kích thước lớn, cổ thắt bụng phình to, trên cổ có 4
quai được tạo dáng khá đẹp. Quanh thân vạc, gần trên cổ có trang
trí. Điều đáng nói là từ trước đến nay chưa thấy ai đề cập đến
chiếc vạc độc đáo này. Trên thân vạc có đề niên đại “Tuế thứ Tân
Mùi nhuận trọng xuân", tức năm 1631 (3). Trọng lượng vạc là
560cân. Theo chúng tôi, chiếc vạc này chắc chắn do người Việt
Nam đúc, còn đúc tại đâu thì quả thật chưa rõ (Thông
tin về các Vạc đồng).
 |
|
|
Súng đồng của Hà Lan |
|
I.2.
Súng: Đa số các loại súng cổ hiện còn giữ được
tại Huế hiện nay đều là đại bác (chủ yếu bằng
gang và bằng đồng) được đúc trong thời Nguyễn. Đại bác của thời
các chúa còn lại chủ yếu là "súng tây" hiện đang đặt tại Bảo
tàng MTCĐ Huế. Đó là những khẩu đại bác bằng đồng của Hà Lan
được đúc rất tinh xảo và có mang phù hiệu của Công ty Đông ấn-Hà
Lan. Những di vật này là sự thể hiện rất độc đáo mối quan hệ cởi
mở về ngoại giao và thương nghiệp dưới thời các chúa (xem ảnh).
| |
 |
|
Khánh đồng ở chùa Thiên Mụ |
I.3.
Khánh:
Không rõ Huế còn giữ được
bao nhiêu chiếc khánh của thời các chúa, nhưng chỉ cần qua chiếc
khánh đồng tuyệt đẹp hiện đang đặt tại
chùa Thiên Mụ cũng đã cho thấy trình độ kỹ thuật và
mỹ thuật rất cao của thời kỳ này.
Đây là chiếc khánh khá lớn, bề mặt trước
sau đều có khắc nổi hình Nhị thập bát tú và mặt trời. Tương
truyền khánh do đại thần Trần Đình Ân đúc năm 1677 tặng cho chùa
Bình Trung (Quảng Trị), sau do loạn lạc mới được đưa vào đặt tại
Thiên Mụ.
 |
|
|
Chuông chùa
Thiên Mụ |
|
I.4. Chuông: Chuông đồng hiện còn ở Huế cũng chủ yếu
được đúc dưới thời vương triều Nguyễn
và đại đa số đều là chuông chùa Phật giáo. Nhưng chiếc chuông
lớn nhất, nổi tiếng nhất lại là chiếc chuông do chúa Nguyễn Phúc
Chu cho đúc từ năm 1710, hiện đặt tại chùa Thiên Mụ. Chuông cao
2,5m, đường kính 1,4m và nặng đến 3285cân, trên khắc bài Minh
của chúa Nguyễn Phúc Chu. Có thể xem đây là một bảo vật của Huế
và là một tư liệu rất quý để nghiên cứu về thời kỳ các chúa
Nguyễn.
I.5.
Gương: Gương đồng thời các chúa Nguyễn còn giữ
được ở Huế hiện nay có cả "gương ngoại" của Nhật, Trung Quốc do
các thương nhân đưa vào thị trường Đàng Trong, nhưng cũng có cả
gương do người Việt đúc (và có thể ngay tại Phường Đúc). Hiện
tại Bảo tàng MTCĐ Huế vẫn giữ được một số chiếc gương rất đẹp,
nhưng điều đáng nói là trong dân gian chúng ta còn tìm được rất
nhiều loại di vật này (xem ảnh).
 |
|
|
Bia đá ở chùa Thiên Mụ |
|
II. Bia đá
Vẫn chưa có một sự điều tra đầy đủ nào về các bia đá và bi văn
tại Huế, trong đó có thời các chúa Nguyễn. Tuy nhiên, một số bia
của thời kỳ này đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập thì đã trở
nên rất nổi tiếng, như bia chùa Thiên Mụ, bia chùa Thiền Lâm,
bia mộ bà Chiêu Nghi, bia tháp Liễu Quán... Những tấm bia này
cũng là những di vật, những tư liệu rất quý để nghiên cứu về
lịch sử và mỹ thuật thời các chúa. Riêng về phong cách bia, đây
cũng là giai đoạn chuyển tiếp của phong cách bia Bắc bộ (bia đầu
tròn, không tai) sang phong cách bia Nguyễn (bia hình chữ nhật,
có tai, trán rõ ràng).
| |
 |
|
Bức hoành phi "Linh thứu cao phong" |
III. Đồ gỗ: Do đặc điểm về khí hậu thời tiết và cũng do
các biến động lịch sử nên các hiện vật bằng gỗ thời chúa Nguyễn
hiện còn rất ít.
Di vật đáng chú ý nhất có lẽ là tấm hoành phi
hiện treo tại điện Đại Hùng, chùa Thiên Mụ do chính tay chúa
Nguyễn Phúc Chu đề 4 chữ đại tự “LINH THỨU CAO PHONG” vào năm
1714; góc hoành phi còn có dấu bảo ấn của chúa.
C. MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH BƯỚC ĐẦU
I.
Về những đóng góp của thời kỳ chúa
Nguyễn đối với văn hóa Huế thì đã quá rõ ràng, đây chính là thời
kỳ kiến tạo và hình thành nên bản sắc văn hóa Huế, đây cũng là
thời kỳ đã "để lại" cho Huế rất nhiều thứ. Về mặt quy hoạch và
xây dựng cơ sở vật chất đô thị, đây cũng chính là thời kỳ Huế
được xây dựng thành một đô thị hoàn chỉnh-kiểu một đô thị phong
thủy, đô thị giữa hai dòng sông mà sau này triều Nguyễn chỉ kế
thừa và mở rộng về quy mô. Dĩ nhiên, để có được thành quả này,
các chúa Nguyễn cũng phải trải qua một quá trình lâu dài tìm
kiếm và tích luỹ kinh nghiệm quy hoạch và xây dựng đô thị suốt
từ thời kỳ Phước Yên, Kim Long, Bác Vọng đến Phú Xuân. Cũng
chính qua quá trình xây dựng kiến tạo trung tâm của Đàng Trong
này, thời kỳ chúa Nguyễn đã để lại một hệ thống di tích di vật
rất phong phú, dù đã bị tàn phá, bị che lấp qua thời gian và của
các triều đại sau, nhưng sẽ không khó nếu chúng ta có sự đầu tư
nghiên cứu, sưu tầm.
 |
|
|
Sơ đồ thủ phủ Phú Xuân
năm
1687-1712 |
|
II. Về vai trò của hệ thống di tích văn
vật thời các chúa Nguyễn, hẳn khó ai có thể phủ nhận vai trò
quan trọng của chúng, nhất là trong việc tìm hiểu nghiên cứu về
mấy trăm năm thời các chúa Nguyễn-một
giai đoạn lịch sử rất quan trọng
nhưng lại còn không ít "khoảng trắng" trong hiểu biết của chúng
ta. Do vậy, việc đầu tư nghiên cứu về hệ thống di
tích di vật này là vô cùng cần thiết.
III.
Về việc bảo tồn và phát huy giá
trị của hệ thống di tích di vật thời chúa Nguyễn của chúng ta rõ
ràng là đến nay vẫn còn nhiều điều bất cập. Ngoại trừ cụm di
tích lăng chúa Nguyễn Hoàng (gồm các lăng Trường Cơ, Trường
Thái, Trường Thiệu và tẩm của Quận Vương Nguyễn Phúc Đồng) đã
được công nhận là Di tích cấp quốc gia và giao cho Trung tâm
BTDTCĐ Huế quản lý, hầu như tất cả lăng mộ còn lại vẫn chưa được
cơ quan nào quản lý, tu bổ. Chùa Thiên Mụ và chùa Thánh Duyên
nhờ tiếng là quốc tự dưới thời triều Nguyễn nên mới được chú ý
nhiều hơn. Hệ thống các di vật thời các chúa hoàn toàn chưa có
một kế hoạch lớn để sưu tầm và phát huy tác dụng; ngay cả nhiều
di vật rất quý của thời các chúa (các vạc đồng, súng đồng,
chuông đồng, bia đá...) hiện được cất giữ tại các bảo tàng cũng
chưa được trưng bày thành những sưu tập riêng, nên càng bị "lấn
át", bị lẫn đi bởi các hiện vật của thời kỳ khác. Ngành du lịch
của Tỉnh nhà cũng chưa hề có một tour du lịch riêng để tìm hiểu
khám phá về thời các chúa Nguyễn. Tuy nhiên, để khắc phục được
những hạn chế này thì đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của các nhà
nghiên cứu lịch sử văn hóa trong công tác nghiên cứu cũng như
trong việc tư vấn cho các nhà chuyên môn.
D.
TÀI LIỆU
THAM KHẢO
|