Vietnamese     English  
Thứ tư, ngày 8/2/2012

 
 
 
Tại bảo tàng
Tại các điểm di tích
 
Sưu tập trang phục cung đình
Sưu tập đồ bạc
Sưu tập đồ gỗ - sơn mài
Sưu tập đồ đồng
Sưu tập đồ sứ ký kiểu
Sưu tập đồ pháp lam
Sưu tập đồng sách - thể sách
Sưu tập tranh gương
 
Chân dung các vua Nguyễn
Ảnh tư liệu về Huế
 
Nội quy tham quan bảo tàng
Vé vào cửa
Chỉ dẫn
 
 



Giới thiệu bảo tàng cổ vật Cung đình Huế

Toàn cảnh phía trước Bảo tàng CVCĐ Huế

Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế (Bảo tàng CVCĐ Huế) được thành lập năm 1923 với tên gọi ban đầu là Musée Khải Định (Bảo tàng Khải Định).
 

Vào năm 1845, vua Thiệu Trị cho kiến thiết trên bãi đất ở bờ bắc sông Ngự Hà (nay thuộc phường Tây Lộc, Thành phố Huế), bên cạnh cung Khánh Ninh có từ thời Minh Mạng (1820-1841), một hành cung tên là Bảo Định, dùng làm nơi để nhà vua tổ chức lễ Diễn Canh (vua ra cày ruộng tịch điền).
 

Tháng 11/1847, vua Thiệu Trị băng hà, thi thể nhà vua được quàng trong gian chính điện Long An, là nơi tổ chức những nghi lễ đầu tiên trong tang lễ, và lưu lại nơi đây suốt 8 tháng, trước khi được đưa đi an táng tại Xương Lăng. Sau đó, điện Long An trở thành nơi thờ phụng long vị của nhà vua cho đến khi thực dân Pháp chiếm giữ ngôi điện này vào tháng 7/1885, sau khi kinh đô thất thủ.
 

Đầu đời Thành Thái, do nhiều lý do khác nhau, cung Bảo Định được triệt giải nhưng người ta vẫn giữ lại trong khuôn viên cũ ngôi điện Long An trong tình trạng gần như nguyên vẹn. Tháng 6/1908, vua Duy Tân (1907 -1916) cho dời Quốc Tử Giám từ làng An Ninh về xây dựng trong Kinh thành (nay là khuôn viên Bảo tàng Lịch sử Cách mạng Thừa Thiên Huế). Triều đình đã cho tháo dỡ gác Minh Trưng và điện Long An từ bờ bắc Ngự Hà, đưa về dựng lại trong khuôn viên Quốc Tử Giám. Gác Minh Trưng trở thành nơi thiết bài vị thờ Khổng Tử và các liệt thánh của đạo Nho, còn điện Long An được sử dụng làm thư viện trường Quốc Tử Giám, gọi là Tân Thơ Viện.
 

Ngày 16/11/1913, ông Richard Orband, đại diện chính phủ Pháp tại triều đình An Nam, thành lập Hội đô thành hiếu cổ (Assosion des Amis du Vieux Hué - AAVH), quy tụ nhiều người ngoại quốc, chủ yếu là người Pháp, và một số người Việt Nam yêu thích việc nghiên cứu lịch sử văn hóa, nghệ thuật, hoạt động với tôn chỉ Bảo tồn những kỷ vật mang tính chính trị, lịch sử, văn học của Âu Châu lẫn bản xứ. Triều đình Duy Tân (1907 - 1916) đã cho phép Hội đô thành hiếu cổ dùng Tân Thơ Viện làm trụ sở để hội họp. Qua năm sau, Hội đô thành hiếu cổ bắt đầu xuất bản tập san riêng là Bulletin des Amis du Vieux Hué (BAVH), một tập san nghiên cứu lịch sử, văn hóa và nghệ thuật Huế rất uy tín. Tập san BAVH được xuất bản đều đặn trong 30 năm, mỗi năm 4 số (tổng cộng là 122 số), cho đến năm 1944 thì đình bản do những biến cố chính trị xã hội lúc bấy giờ.
 

Bấy giờ, nhiều tác phẩm nghệ thuật của Việt Nam bao gồm đồ gỗ, tượng điêu khắc, đồ đồng, đồ sứ, ngọc ngà đã bị săn đuổi, chiếm hữu, hoặc bị đưa ra nước ngoài bày bán trong các gian hàng đồ cổ và trong các cuộc đấu giá tác phẩm nghệ thuật, làm giàu cho các bộ sưu tập tư nhân và các bảo tàng ở châu Âu. Trước tình trạng đó, xuất phát từ lòng trân trọng quá khứ và yêu thích nghệ thuật, Hội đô thành hiếu cổ đã cố gắng bảo tồn những tác phẩm nghệ thuật vô giá bằng cách tập hợp ở Tân Thơ Viện tất cả những gì gợi nhớ đến quá khứ huy hoàng đã qua, những lễ nghi và phong tục của người Việt và đời sống cung đình của vương triều Nguyễn ở Huế.
 

Trong phiên họp ngày 30/4/1914 của Hội đô thành hiếu cổ, ông Richard Orband đã công bố một bài nghiên cứu về những đồ đồng đúc dưới triều Minh Mạng (1820 - 1841) do triều đình Nguyễn trao tặng và quyết định đưa những hiện vật này ra trưng bày. Đây có thể xem là những khởi động cho việc ra đời một bảo tàng tại Huế.
 

Từ năm 1915, số cổ vật do các hội viên Hội đô thành hiếu cổ thu thập và đưa về cất giữ trong Tân Thơ Viện ngày một tăng. Các hội viên đã nỗ lực tìm kiếm những tác phẩm nghệ thuật bị mất mát trước đây nay đang bị sở hữu bất hợp pháp cũng như các cổ vật đang bị tản mác hoặc bị vùi lấp trong các phế tích ở Huế và các vùng phụ cận đưa về cất giữ trong điện Long An.
 

Trước tình hình cổ vật thu thập ngày một nhiều, Khâm sứ Trung Kỳ bấy giờ là P. Pasquier, người đánh giá cao những nỗ lực của Hội đô thành hiếu cổ, đã quyết định cho phép mở rộng hoạt động của Hội bằng việc đề xuất thành lập một bảo tàng tại đây, hoạt động dưới sự bảo trợ của Hội đô thành hiếu cổ.
 

Những người Pháp hoạt động trong Hội đô thành hiếu cổ đã xúc tiến cho việc thành lập một bảo tàng tương lai bằng việc cho ra đời một Ủy ban bảo tàng gồm các ủy viên: Bardon, Edmund Gras, Levadoux, Henry Peyssonnaux, Thân Trọng Huề dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Khâm sứ Pasquier. Ủy ban bảo tàng là bộ phận phụ trách việc sưu tầm, mua và trưng bày cổ vật trong khuôn viên Tân Thơ Viện.
 

Với những nỗ lực của Ủy ban bảo tàng và sự tác động từ phía Khâm sứ Trung Kỳ Pasquier đối với triều đình nhà Nguyễn, ngày 24/8/1923, vua Khải Định ký dụ cho phép chính thức thành lập tại Kinh đô Huế một bảo tàng “có nhiệm vụ sưu tập và bảo tồn những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu phản ánh đầy đủ đời sống chính trị, xã hội, nghệ thuật và nghi lễ của nước Đại Nam”. Nhà vua cho phép sử dụng Tân Thơ Viện làm nơi trưng bày chính thức những sưu tập hiện vật của bảo tàng và đổi tên nơi này thành Bảo tàng Khải Định, đặt dưới sự quản lý của Hội đô thành hiếu cổ. Sách vở, tài liệu lưu trữ trong Tân Thơ Viện được chuyển sang tòa nhà phía tả Di Luân Đường trong khuôn viên trường Quốc Tử Giám, gọi là Bảo Đại thư viện.
 

Ngoài việc trưng bày những cổ vật phục vụ du khách, ủy ban điều hành Bảo tàng Khải Định đã làm tốt công tác sưu tầm cổ vật từ nhiều nguồn khác nhau: dùng ngân sách được cấp để mua cổ vật (khoản kinh phí này luôn được duy trì ở mức 3000 đồng Đông Dương/năm); vận động sự hiến tặng từ các cá nhân và tổ chức hảo tâm, mà một trong những nhân vật tiêu biểu cho sự đóng góp cổ vật cho bảo tàng là Chủ tịch Ủy ban bảo tàng Edmund Gras, người đã hiến nhiều cổ vật quý cho bảo tàng, đủ để thành lập một phòng trưng bày mang tên Gras sau khi ông về hưu vào năm 1925. Chỉ mấy năm sau khi Bảo tàng Khải Định thành lập, số lượng hiện vật của triều Nguyễn đưa từ Hoàng cung, các lăng tẩm và các nơi khác đến ngày càng nhiều. Số hiện vật mua được từ trong dân gian cũng không ít. Lượng cổ vật sưu tầm nhiều đến nỗi tòa điện Long An không có đủ mặt bằng để trưng bày và không có đủ chỗ để cất giữ. Số hiện vật bấy giờ lên đến khoảng 10.000 đơn vị. Đặc biệt, những tác phẩm điêu khắc Champa được sưu tập từ khắp các di tích Champa trong và ngoài phạm vi vùng Huế, trong đó phần lớn là những tác phẩm điêu khắc Champa trên đá do nhà khảo cổ học Jean Yves Clayes khai quật ở Trà Kiệu và phân phối một số cho Bảo tàng Khải Định, đã không còn chổ để cất giữ và trưng bày. Trước tình hình đó, Hội đô thành hiếu cổ đã đề xuất việc xây dựng một khu trưng bày cổ vật Champa và đã được Nam triều chấp thuận. Ngày 26/12/1927, vua Khải Định ký dụ cho xây dựng Khu cổ vật Chàm (Sestiondes Antiquités Cham), quen gọi tắt là Phòng Chàm, là nơi trưng bày các tượng Chàm tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc Champa.
 

Hội đô thành hiếu cổ tiếp tục đẩy mạnh hoạt động của mình trên cả hai lĩnh vực: xuất bản tập san BAVH và điều hành hoạt động của Bảo tàng Khải Định cho đến năm 1945 thì Hội đô thành hiếu cổ chấm dứt hoạt động sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp. Riêng Bảo tàng Khải Định được giao cho Viện Văn hóa Trung Việt quản lý và tiếp tục mở cửa đón khách tham quan, trừ Phòng Chàm. Tháng 8/1945, vua Bảo Đại thoái vị, Bảo tàng Khải Định trực thuộc sự chỉ đạo của Ủy ban Hành chính Trung Bộ. Đầu năm 1947, thực dân Pháp tái chiếm thành phố Huế, Bảo tàng Khải Định được đổi tên thành Tàng cổ viện và tiếp tục trực thuộc sự quản lý của Viện Văn hóa Trung Việt, cho đến năm 1958 thì đổi tên thành Viện bảo tàng Huế.
 

Sau ngày thống nhất đất nước, vào năm 1979, bảo tàng tiếp tục mở cửa đón khách tham quan và được đổi tên thành Bảo tàng Cổ vật Huế. Trong thời gian này, nhiều hiện vật từ các di tích thuộc quần thể di tích triều Nguyễn như lăng Thiệu Trị, lăng Tự Đức, lăng Dục Đức, lăng Khải Định, điện Huệ Nam, Thế Miếu được đưa về bảo quản trong kho của bảo tàng. Từ tháng 9/1995, bảo tàng được đổi tên thành Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế; từ năm 2007, Bảo tàng chính thức được mang tên Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế và cũng trong thời gian này, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế được nâng cấp thành Bảo tàng hạng II.
 

Điện Long An là nhà trưng bày chính của Bảo tàng. Ngôi điện đã tồn tại hơn 1,5 thế kỷ và cũng là một cổ vật tuyệt tác, được đánh giá là cung điện đẹp nhất của Kinh thành Huế xưa. Từ năm 2008, điện Long An được trùng tu, vì vậy phần trưng bày chính của Bảo tàng được chuyển sang cung An Định (150 Nguyễn Huệ, Thành phố Huế). Phần trưng bày tại cung An Định giới thiệu gần 300 hiện vật tiêu biểu của Bảo tàng bao gồm sưu tập đồ sứ ký kiểu; sưu tập pháp lam; sưu tập đồ gỗ; sưu tập đồ kim loại quý; sưu tập ấn triện; sưu tập tiền cổ Việt Nam, Nhật Bản, Trung Hoa...
 

Kể từ lúc khai sinh, Bảo tàng CVCÐ Huế là sự tiếp nối, kế thừa từ Bảo tàng Khải Định, là nơi trưng bày và tàng trữ hơn 8.000 cổ vật quý giá. Phần lớn những hiện vật này là những tác phẩm nghệ thuật, các đồ dùng cho nhu cầu sinh hoạt, lễ nghi, tín ngưỡng và quốc phòng của vua, hoàng gia và triều đình nhà Nguyễn; các hiện vật Chămpa và những tặng phẩm, thương phẩm từ quan hệ ngoại giao và thương mại giữa Việt Nam và các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Pháp, Hà Lan, Anh, Thái Lan... bao gồm đồ sứ, đồ đồng, kim loại quý, vải, gỗ, đá, pha lê, ngà, mây tre... Bảo tàng CVCÐ Huế là nơi bảo lưu đầy đủ nhất những hiện vật ghi dấu về cuộc sống cung đình triều Nguyễn.
 

Từ tháng 4/2008, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế (ĐC: 03 Lê Trực - Thành phố Huế) tạm đóng cửa, không phục vụ khách tham quan do điện Long An, tòa nhà trưng bày chính của Bảo tàng được trùng tu và phần trưng bày của Bảo tàng được chuyển sang cung An Định (ĐC: 150 Nguyễn Huệ, Thành phố Huế).
 

Phần trưng bày của Bảo tàng CVCĐ Huế tại cung An Định gồm trưng bày nội thất và trưng bày ngoại thất, giới thiệu khoảng 300 hiện vật tiêu biểu của Bảo tàng. Phần trưng bày nội thất giới thiệu từng sưu tập hiện vật theo chất liệu: Sưu tập cành vàng lá ngọc; sưu tập tiền cổ Việt Nam, Nhật Bản và Trung Hoa; sưu tập đồ sứ ký kiểu; sưu tập hiện vật kim loại quý; sưu tập đồ uống trà bằng đất nung; sưu tập đồ gỗ, sưu tập đồ sứ phương Tây... Phần trưng bày ngoại thất giới thiệu bộ sưu tập chuông, vạc đồng và đồ sứ ký kiểu phục chế.
 

Ngoài phần trưng bày hiện vật, du khách khi tham quan phòng trưng bày Bảo tàng tại cung An Định còn được giới thiệu về hình ảnh cố đô Huế thông qua hệ thống nghe nhìn, giới thiệu các hình ảnh Huế xưa, các lễ hội trong các kỳ Festival và đặc biệt sẽ được tham quan cung An Định, một di tích độc đáo được xây dựng dưới thời vua Khải Định.

 

 Trang trước    Đầu trang    In trang    Gửi cho bạn  

 
 
 
Giới thiệu sưu tập