|
I.
Nhà hát Duyệt
Thị Đường:
Duyệt Thị Đường: (Duyệt:
- xem xét để phân biệt điều phải trái; Thị:- xem; Đường; - ngôi
nhà). Nói khác khác: Duyệt Thị Đường là một gian nhà, nơi dành
để xem biểu diễn nghệ thuật. Từ đó, con người chiêm nghiệm ra
những điều hay, lẽ phải trong cuộc đời, thông qua nội dung những
tác phẩm nghệ thuật đó. Duyệt Thị Đường được xây dựng vào năm
Minh Mạng thứ 7 (1826) nằm bên trong Tử Cấm Thành. Đây là nơi
dành riêng cho Vua, Hoàng thân quốc thích, các quan đại thần, và
Quốc khách của triều đình đến xem biểu diễn nghệ thuật (chủ yếu
là xem các vở Tuồng cung đình).
 |
|
 |
|
Nhà hát Duyệt
Thị Đường |
|
Nhà hát Minh
Khiêm Đường |
Duyệt Thị Đường có tổng
diện tích 11.740 m2. Diện tích xây dựng nhà hát 1.182m2. Toàn
bộ khuôn viên nhà hát trước đây được dùng để trồng các loại cây
thuốc Nam quí hiếm. Bên hữu nhà hát là Ngự y viện, nơi để sao
chế thuốc chữa bệnh cho nhà Vua và Hoàng gia. Bên tả là sở
Thượng Thiện, nơi dùng để chế biến các món ăn phục vụ nhà Vua.
Tất cả đều được ngăn với nhà hát bằng bức tường.
Vật liệu xây dựng nhà
hát đều bằng ngỗ lim, có chiều cao 12m, gồm 2 tầng. Trần nhà
được chạm nổi cảnh trăng, sao, các vì tinh tú, mặt trời, biểu
hiện của vũ trụ thu nhỏ … Bên ngoài được chạm khắc hình
rồng, phụng và các hoa văn…Sân khấu hình vuông ở giữa nhà hát.
Vị trí vua ngồi ở trong một vòm ngay chính giữa lầu hai, phía
trước hai bên vòm có treo hai câu đối của Vua Minh Mạng:
|
“Âm nhạc
tịnh trần hoà kỳ tâm dĩ dưỡng kỳ chí |
|
Nghiên
xuy tề hiến thủ kỳ thị nhi giới kỳ phi” |
Dịch nghĩa:
Âm nhạc cùng phô bày, hoà lòng
người để nuôi dưỡng chí khí.
Thiện ác đồng trình diện, khiến
giữ được cái tốt (cái đúng) mà giới hạn cái xấu ( cái sai).
| |
 |
| |
Duyệt Thị
Đường, Nhà hát Hoàng gia trong Tử Cấm thành nhìn từ phía
nam. Ảnh chụp khoảng năm 1965. |
Hai bên trái, phải là nơi dành
cho các Quốc khách. Các quan của triều đình ngồi trên trường kỷ
đặt hai bên tả, hữu sân khấu. Hoàng gia ngồi xem biểu diễn trên
lầu hai. Sân khấu có ba mặt, phía sau là hậu trường, có hai
phòng hai bên dành cho các diễn viên hoá trang, thay phục trang
để chuẩn bị biểu diễn.
Trãi qua gần 200 năm, dưới
sự tác động của thiên nhiên khắc nghiệt và sự tàn phá của chiến
tranh. Nhà hát Duyệt Thị Đường đã gánh chịu nhiều hư hỏng nặng
nề và được trùng tu, sửa chữa nhiều lần. Từ 1995 đến năm 2002,
nhà hát được trùng tu, phục chế hoàn chỉnh lần cuối, và chính
thức đi vào hoạt động thường xuyên từ tháng 3/ 2003, do nhà hát
truyền thống cung đình thuộc TTBTDT cố đô Huế đảm nhiệm. Để phù
hợp với tình hình thực tế hiện nay, một số vị trí thuộc khu vực
biễu diễn và khu vực khán giả đã được thay đổi, nhằm phục vụ nhu
cầu của đông đảo quần chúng và khách tham quan du lịch đến
thưởng thức nghệ thuật tại nhà hát.
II. Các loại hình nghệ thuật đang
được biểu diễn trong nhà hát Duyệt Thị Đường:
II.1.
Nhã Nhạc:
|
 |
|
|
Một ban Nhã
nhạc của triều đình.
Ảnh chụp năm
1919. |
|
Nhã nhạc đồng nghĩa với nhạc lễ cung đình, nó bao hàm tất cả các
tổ chức dàn nhạc lễ. Thuật ngữ nhã nhạc có liên quan đến âm nhạc
cung đình có mặt tại 4 nước đồng văn: Trung Quốc, Nhật Bản,
Triều Tiên và Việt Nam. Nhã nhạc xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc
dưới thời nhà Chu (thế kỷ VI – tk III TCN). Về sau, nhã nhạc
được lan toả sang các nước láng giềng như: Nhật Bản (tk VIII),
Triều Tiên ( tk XII), Việt Nam (tk XV). Tuy được xem là tài sản
chung nhưng nhã nhạc của mỗi nước đều có điểm riêng biệt. Ở Việt
Nam, nhã nhạc bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ XV, nhưng phải đến
thời kỳ nhà Nguyễn mới phát triển rực rở và đạt đến trình độ
uyên bác.
Ý nghĩa của thuật ngữ Nhã nhạc có khác nhau qua từng thời kỳ,
nhưng nhìn chung nó vẫn giữ nguyên là loại âm nhạc chính thống
của triều đình, đối lập với âm nhạc dân gian. Ngoài ra, Nhã nhạc
còn mang một nghĩa hẹp, khi thì chỉ một tổ chức âm nhạc cung
đình nhà Lê (thự nhã nhạc), khi thì chỉ một loại dàn nhạc trong
cung đình triều Nguyễn. Nhưng những nghĩa hẹp này chỉ tồn tại
trong một thời gian ngắn và biến mất. Ngày nay, trong bối cảnh
giao lưu quốc tế, Nhã nhạc được hiểu theo ý nghĩa nguyên thuỷ
của nó, tức là nhạc chính thống mang tính lễ nghi, được sử dụng
trong các triều đình quân chủ Việt Nam cũng như tại các nước
đồng văn.
Tháng 11 năm 2003, Nhã nhạc Việt Nam chính thức được tổ chức
Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hiệp quốc - Gọi tắc là
Unesco, công nhận là “Kiệt tác di sản văn hoá phi vật thể và
truyền khẩu của nhân loại”. Đây là di sản văn hoá phi vật thể
đầu tiên của Việt Nam được thế giới công nhận tính đến thời điểm
hiện tại. Nhã nhạc hiện nay chỉ tồn tại dưới hai tổ chức dàn
nhạc, đó là: Đại nhạc và Tiểu nhạc.
a/
Đại Nhạc: Là dàn nhạc hết sức quan trọng trong hệ thống nhạc lễ cung đình Huế. Nó
là dàn nhạc diễn tấu với những trình thức quan trọng nhất trong
các buổi lễ, thường được dùng trong các lễ tế như: Tế Nam giao,
tế miếu, Đại triều …Đây là dàn nhạc có âm lượng lớn. Nhạc cụ
chủ yếu vẫn là dàn trống và kèn. Cấu tạo của dàn Đại nhạc:- 2 bộ
gõ và bộ hơi, gồm 4 chủng loại, với trên 40 nhạc cụ. Tuy nhiên,
so với các dàn Đại nhạc được mô tả trong các dữ liệu thì dàn Đại
nhạc hiện nay có biên chế gọn nhẹ hơn.
Cấu trúc nhạc cụ
dàn Đại nhạc gồm:
Bộ gõ:
|
- Trống đại |
: 01 cái |
|
- Trống chiến |
: 01 hoặc
nhiều hơn phụ thuộc vào số lượng kèn, theo tỉ
lệ 1:1 |
|
- Bồng |
: 01 cái |
|
- Não bạt ( xập xoã) |
: 01 cái |
|
- Mỏ sừng trâu |
: 01 cái |
|
- Trống cơm |
: 01 cái |
Bộ hơi: -
Kèn bầu (kèn đại)
- Kèng lỡ ( kèn trung).
Bộ dây: -
Đàn nhị (nhạc cụ phụ, chỉ dùng
duy nhất khi tấu bài nam bình).
Các bài bản của
đại nhạc gồm: Tam luân cửu chuyển (ba hồi chín chuyển), Đăng đàn cung, đăng đàn đơn,
đăng đàn kép, đăng đàn chạy, xàng xê, nam bằng, nam ai, cung ai,
cung bằng, man, mã vũ, tẩu mã, bài kèn thoét, thái bình cổ nhạc,
bài kèn bóp, phú lục, bài bông, nam trĩ, kèn chiến, phần hoá,
phát, hiệp, khai trường.
b/ Tiểu nhạc:
So với Đại nhạc, thì các bài bản âm nhạc của hệ thống Tiểu nhạc
tương đối ổn định hơn. Bài bản âm nhạc mang màu sắc trang nhã,
vui tươi, thường được dùng trong các buổi yến tiệc của triều
đình, trong các lễ đại khánh, dịp tết nguyên đán. Chất liệu dễ
đi vào lòng người, không quá trang nghiêm hoặc quá sầu bi như
các bài bản của đại nhạc. về âm lượng nó không quá lớn như đại
nhạc. Nhiều bài bản tiểu nhạc còn có lời ca. Cấu trúc nhạc cụ
dàn tiểu nhạc:
Bộ gõ:
|
- Trống bản. |
- Phách tiền. |
|
- Não bạt.
|
- Tam âm la. |
|
- Mõ sừng trâu. |
- Trống chiến (sử dụng hạn
chế) |
Bộ hơi:
- Sáo.
Bộ dây:
|
- Đàn tam |
- Đàn nhị
|
|
- Đàn tỳ |
- Đàn nguyệt |
Các bài bản chính
thống của tiểu nhạc hiện nay đang được biểu diễn:
Hệ thống 10 bài liên hoàn ( hay
thập thủ liên hoàn) gồm: Phẩm tuyết, nguyên tiêu, hồ quảng, liên
hoàn, bình bán, tây mai, kim tiền, xuân phong, long hổ, tẩu mã.
Các bài bản khác: - Ngũ đối thượng, ngũ đối hạ, long ngâm, long
đăng, tiểu khúc, phú lục địch, phụng vũ, bài thiều.
II.2. Múa
cung đình
Múa cung đình đi đôi với nhạc
cung đình và có nguồn gốc lâu đời ở nước ta. Vào thời nhà Lý,
nhà Trần đều đã có các điệu múa cung đình. Múa cung đình bắt
nguồn từ các điệu múa truyền thống trong dân gian, được chọn lọc
và nâng cao theo những qui phạm nghệ thuật chặt chẻ, nghiêm
trang. Múa cung đình mang tính chất khoẻ khoắn, ca ngợi cảnh
thái bình, thịnh trị.
| |
 |
| |
Đội Ba vũ múa
bài "Lục cúng Hoa đăng" trong một lần chiêu đãi quốc khách
tại Huế. Ảnh chụp năm 1956. |
Múa cung đình triều Nguyễn
cũng tiếp thu các điều múa từ cung đình và dân gian của các
triều đại trước, nâng cao và sáng tạo thành những điệu múa mới,
mang đặc trưng của nghệ thuật biểu diễn thời Nguyễn. Múa cung
đình nhà Nguyễn chủ yếu là múa tập thể, tư tưởng, chủ đề thường
biểu hiện ở các đội hình di chuyển và kết thúc bằng một đội hình
ngưng đọng. Trong khi trình diễn, các vũ sinh miệng ca, tay múa
theo điệu nhạc hoà tấu. Nội dung bài hát trong điệu múa hoàn
toàn bằng chữ Hán. Trong số 11 điệu múa của thời nhà Nguyễn đã
và đang được nhà hát Truyền Thống Cung Đình thuộc TTBTDT cố đô
Huế sưu tầm, khai thác và phục hồi gồm:
|
1. Bát dật |
(Đang biểu diễn) |
|
2. Lục cúng hoa đăng |
(Đang biểu diễn) |
|
3. Tam Tinh chúc thọ |
(Đang nghiên cứu phục hồi) |
|
4. Bát tiên hiến thọ |
(Đang nghiên cứu phục hồi) |
|
5. Trình tường tập khánh |
(Đang biểu diễn) |
|
6. Tứ Linh |
(Đã phục hồi và đưa vào
biểu diễn một số trích đoạn như:Lân mẫu xuất lân nhi, song
phụng, Long hổ hội) |
|
7. Nữ tướng xuất quân |
(Đang biểu diễn) |
|
8. Vũ phiến |
(Đang biểu diễn) |
|
9. Tam quốc tây du |
(Đang biểu diễn) |
|
10. Lục triệt hoa mã đăng |
(Đang biểu diễn)
|
|
11. Đấu-chiến-thắng-phật |
(Đang nghiên cứu phục hồi) |
Các điệu múa này thường
được dùng để biểu diễn trong các ngày lễ: Thánh thọ (sinh nhật
Hoàng Thái Hậu), Tiên thọ (sinh nhật Hoàng Thái Phi), Vạn thọ (sinh
nhật vua), Thiên xuân (sinh nhật Hoàng Thái Tử), Thiên thu (sinh
nhật Thái Hậu). Ngoài các lễ trên, múa cung đình còn được diễn
trong các lễ: Hưng quốc khánh niệm, tết Nguyên đán, Lễ kết hôn
Hoàng Tử, công chúa và các dịp tiếp đãi sứ thần ngoại quốc. Khi
diễn dùng ban nhạc Thiều.
II.3
Tuồng cung đình:
Tuồng hay còn gọi là hát bội – Đây là di sản văn hoá nghệ thuật
sáng giá của dân tộc Việt Nam. Bộ môn nghệ thuật diễn xướng
truyền thống này đã xuất hiện ở nước ta từ thời nhà Trần (1225 –
1400).
|
 |
|
|
Vở Quan Công
đại chiến Bàng Đức. |
|
Thế kỷ XVII, có một bật trí
giả tên Đào Duy Từ, quê ở Thanh Hoá. Vốn xuất thân trong một gia
đình có truyền thống nghệ thuật, nhưng bị triều đình vua Lê chúa
Trịnh ở Đàng ngoài ngược đãi. Đào Duy Từ đã từ giả Đang ngoài,
ôm ấp hoài bảo chính trị và nghệ thuật để vào phục vụ cho sự
nghiệp của chúa Nguyễn ở Đàng trong. Ngoài những kỳ tích mà Đào
Duy Từ đã lập nên về chính trị, quân sự, ông còn là người khai
sinh ra bộ môn nghệ thuật Tuồng và ca múa cung đình ở Đàng trong.
Có thể nói: Đối với các
hình thái nghệ thuật cung đình, Tuồng cung đình Huế là một hiện
tượng phát tích rực rở trrong truyền thống kịch hát dân tộc. Sự
phát triển của nghệ thuật Tuồng dưới triều đại nhà Nguyễn, mà
giai đoạn cực thịnh là thời Tự Đức – Thành Thái, đã nâng nghệ
thuật Tuồng vốn mang tính dân gian trước đó lên thành một bộ môn
nghệ thuật hoàn thiện, mang tính bác học cả về mặt kịch bản cũng
như về nghệ thuật biểu diễn và đã tạo dựng một phong cách riêng.
Trãi qua hơn một thế kỷ trị vì của triều Nguyễn, NT Tuồng đã đạt
đến đỉnh cao. Tuồng đã trở thành quốc kịch của một quốc gia. Bấy
giờ tại đây, Tuồng đã nở rộ và phát triển mạnh mẽ trong hoàng
cung cũng như ngoài dân dã. Nó được tất cả các tầng lớp trong xã
hội, từ Vua, quan đến dân chúng hết sức ưa chuộng. Dưới triều
Minh Mạng đã cho xây dựng nhà hát Duyệt Thị Đường (nhà hát đầu
tiên được xây dựng trong cung) chủ yếu để diễn các vở Tuồng phục
vụ cho Vua, quan và Hoàng thân quốc thích. Đến thời vua Tự Đức
nghệ thuật Tuồng phát triển tột đỉnh. Vua xây dựng nhà hát Minh
Khiêm Đường, qui tụ các đào, kép giỏi về đây để tập luyện và
biểu diễn Tuồng. Thành lập ban hiệu thư, tập hợp các tài năng
đương thời để chỉnh lý các “Phường bản” (Tuồng dân gian) soạn
các vở Tuồng và hoạ văn thơ. Vì vậy, các Tuồng bản xuất hiện rất
nhiều. Nhiều loại Tuồng chính thống cũng đã xuất hiện dưới triều
đại này.
Tuồng cung đình với những
qui chế nghiêm ngặt về luật cấm kỵ khi trình diễn cho vua xem,
như: Kiêng nói huý (tên nhà vua cùng gia đình) trong vở diễn,
cung cách chào và chúc tụng nhà vua trước và sau vở diễn được
qui định và tuân thủ nghiêm ngặt. Khi biểu diễn, không được nhìn
thẳng vào mặt vua. Nhân vật vua (nếu có) khi ngồi trên sân khấu,
phải ngồi chệch, không được ngồi đối diện với vua. Không được
thêm, bớt hoặc hát sai lời trong kịch bản vv…
| |
 |
| |
Vở Tấm - Cám. |
Tuồng cung đình là đại
diện cho chủ nghĩa cổ điển của sân khấu Việt Nam. Cổ điển với
cái nghĩa mẫu mực, có qui phạm và thể chế chặt chẻ, từ các điệu
hát, âm nhạc, cái trống chầu cho đến trình độ diễn xuất của các
nghệ sĩ. Nội dung của các vở Tuồng trong thời kỳ này luôn gắn
với chủ đề quân Quốc, đề cao tinh thần trung quân ái quốc. Toàn
bộ bối cảnh xã hội được nêu ra trong Tuồng cung đình đó là: Bảo
vệ vua, khôi phục cương vị xã hội, xây dựng nền tảng đạo lý vững
chắc bằng tam cương ngũ thường, trung nghĩa tròn vẹn. Những vở
kịch diễn tiến trong cuộc xung đột một mất, một còn giữa chính
và tà, giữa trung và nịnh, giữa người cùng máu mủ ruột thịt,
nhưng bị chia cắt bởi lý tưởng nên xử sự với nhau như thù cừu…
Tuồng cung đình có hàng
trăm vở, trong đó có các vở mang tính tiêu biểu, độc đáo, sâu
sắc về nội dung và tư tưởng như: Sơn hậu, Dương chấn tử, Tam nữ
đồ vương, Hồ thạch phủ, Lý phụng đình, Giác oan, Đào phi phụng,
Phụng kỉnh văn, Ngọn lửa hồng sơn; Về Tuồng pho - Tuồng trường
thiên có các vở: Vạn Bửu Trình Tường (108 hồi, Lấy các vị thuốc
đông y đặt tên cho các nhân vật), Quần Phương Hiến Thuỵ (100 hồi,
lấy tên các loài thảo mộc đặt tên cho các nhân vật), Học Lâm (Học
lâm các): có nghĩa là: “Rừng học luật” Gồm: 08 hồi, lấy những
lớp hay nhất trong các vở Tuồng cổ, chắp lại với nhau trong
những cấu trúc mới, đặt tên cho nhân vật, viết lại lời mới theo
lối văn bác học. Tuy vậy, do điều kiện cũng như những vấn đề
khách quan và chủ quan, nhà hát Truyền Thống Cung Đình hiện nay
mới sưu tầm, phục hồi và biểu diễn một số vở Tuồng và trích đoạn
nằm trong hệ thống đồ sộ của Tuồng cung đình Huế.
|
 |
|
|
Vở Ngọn lửa
Hồng Sơn. |
|
Hành trình dân tộc đi về
phương Nam, làm nên vẽ đẹp hào hùng của tổ quốc, chính là hành
trình văn hoá Phú Xuân. Nhà hát Duyệt Thị Đường là một sân khấu
bật nhất của thế kỷ 19 – 20. Đây là nơi đóng vai trò quan trọng
cho việc làm nên sự nghiệp nghệ thuật vĩ đại. Bảo tồn nhà hát
Duyệt Thị Đường và phục hồi chức năng của nhà hát cũng là tìm
lại những giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc nhằm làm
cho di sản văn hoá Huế ngày càng thêm phong phú. Đây là vẽ đẹp
hoành tráng mà văn hoá đã đáp ứng cho nhu cầu thưởng thức nghệ
thuật của nhân dân và khách tham quan du lịch.
|