|
Là một loại
hình âm nhạc mang tính bác học của các triều đại quân chủ trong
xã hội Việt Nam suốt hơn 10 thế kỷ. Nhã nhạc nhằm tạo sự trang
trọng cho các cuộc tế, lễ cung đình như Tế Giao, Tế miếu, Lễ Đại
triều, Thường triều...; Tinh hoa này được cô đọng lại dưới triều
Nguyễn, khiến cho Huế càng được khẳng định hơn về một trung tâm
văn hóa tiêu biểu của dân tộc. Với tất cả giá trị lịch sử ấy,
lúc 15h30 ngày 7/11/2003, Nhã nhạc Việt Nam đã được UNESCO ghi
tên vào Danh mục Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân
loại. Huế song hành một lúc hai di sản văn hóa thế giới: vật thể
và phi vật thể, đã đánh dấu một bước ngoặc về thế giới văn hóa của
vùng đất này.
Hành trình lịch sử
Nhã
nhạc (Âm nhạc cung đình) là loại hình âm nhạc chính thống, được
xem là quốc nhạc, sử dụng trong các cuộc tế, lễ của triều đình. Các triều
đại quân chủ Việt Nam hết sức coi trọng, phát triển Nhã nhạc, và
loại hình âm nhạc này trở thành một biểu tượng cho vương quyền
về sự trường tồn, hưng thịnh của triều đại. Các quy định về quy
mô dàn nhạc, cách thức diễn xướng, nội dung bài bản...của Nhã
nhạc đều rất chặt chẽ, phản ánh tính quy củ qua các định chế
thẩm mỹ rất cao, có khả năng phản ánh tư tưởng, quan niệm triết
lý của chế độ quân chủ đương thời.
Theo sách sử thì Nhã
nhạc ra đời vào triều Lý (1010-1225) và hoạt động một cách quy
củ vào thời Lê (1427-1788), là loại hình nhạc mang tính chính
thống, với quy mô tổ chức chặt chẽ. Các tổ chức âm nhạc được
thành lập, đặt dưới sự cai quản của các nhạc quan. Triều Lê đã
định ra các loại nhạc như sau: Giao nhạc, Miếu nhạc, Nhũ tự
nhạc, Cứu nhật nguyệt lai trùng nhạc, Đại triều nhạc, Thường
triều nhạc, đại yến nhạc, Cung trung nhạc. Song, vào giai đoạn
cuối của triều Lê, âm nhạc cung đình dần dần đi vào thời kỳ suy
thoái và nhạt phai dần.
Đến thời Nguyễn(
1802-1945), vào nữa đầu thế kỷ XIX, điều kiện xã hội đã cho
phép, âm nhạc cung đình phát triển trở lại. Triều đình Nguyễn
quy định 7 thể loại âm nhạc, gần giống với các thể loại của
triều Lê, bao gồm: Giao nhạc: Miếu nhạc: Ngũ tự nhạc: Đại triều
nhạc: Thường triều nhạc: Yến nhạc: Cung trung nhạc: Dưới thời
Nguyễn, Nhã nhạc được dùng trong các lễ tế đại triều 2
lần/tháng, thường triều 4 lần/tháng: Nam Giao, Tịch Điền, sinh
nhật vua và hoàng hậu. Tế bất thường: Đăng quang, lễ tang của
vua và hoàng hậu, đón tiếp sứ thần. Tùy theo từng cuộc tế lễ mà
có các thể loại khác nhau, như đai triều nhạc dùng trong lễ
Nguyên đán, Ban sóc ... Đại yến cửu tấu nhạc dùng trong mừng
thọ, chúc thọ, tiếp đãi sứ thần ... Cung trung nhạc biểu diễn
trong trong các cung hoàng thái hậu và thái hoàng thái hậu...
Miếu nhạc sử dụng tại các nơi thờ vua, chúa ... Ngũ tự nhạc dùng
trong tế Xã tắc, Tiên nông...
Nhã nhạc lúc này có
hệ thống bài bản rất phong phú, với hàng trăm nhạc chương (lời
ca bằng chữ Hán). Các nhạc chương đều do Bộ Lễ biên soạn phù
hợp với từng cuộc lễ của triều đình. Tế Giao có 10 nhạc chương
mang chữ Thành (thành công); Tế Xã tắc có 7 nhạc chương mang chữ
Phong (được mùa); Tế Miếu có 9 nhạc chương mang chữ Hòa (hòa
hợp), Tế Lịch Đại Đế vương có 6 nhạc chương mang chữ Văn (trí
tuệ); Lễ Đại triều dùng 5 bài mang chữ Bình (hòa bình); Lễ Vạn
thọ dùng 7 bài mang chữ Thọ (trường tồn); lễ Đại yến dùng 5 bài
mang chữ Phúc (phúc lành)... Từ cơ sở kế thừa các triều đại
trước, triều Nguyễn đã cho bổ sung thêm nhiều loại thể nhạc như
Huyền nhạc, Ty trúc tế nhạc, Ty chung, Ty khánh, Ty cổ.
Vào cuối thế kỷ XIX,
khi đất nước lâm vào nạn ngoại xâm, vai trò của triều đình mờ
dần, thì âm nhạc cung đình cùng các lễ nghi cũng giảm và mờ dần.
Vào cuối thời Nguyễn, chỉ còn duy trì 2 loại dàn nhạc là Đại
nhạc (gồm trống, kèn, mõ, bồng, xập xõa) và tiểu nhạc (trống
bản, đàn tỳ bà, đàn nhị, đàn tam, địch, tam âm, phách tiền).
Ngoài ra, triều đình cho du nhập dàn Quân nhạc của phương Tây,
làm cho vai trò của Nhã nhạc càng mờ nhạt thêm.
Những nổ lực bảo tồn
di sản
Sau năm 1945, Nhã
nhạc đã mất không gian vốn có của nó và có nguy cơ mai một dần.
Hiện nay Nhã nhạc không còn giữ được diện mạo như xưa, nhưng nó
vẫn có thể là một minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa đặc
biệt của dân tộc Việt Nam. Tuy đã được duy trì và phát triển qua
cả nghìn năm, nhưng ngày nay, các tài liệu lịch sử về Nhã nhạc
không còn nhiều, lại phân bố ở nhiều nơi, không có một cơ sở lưu
trữ bài bản và hệ thống, các nghệ nhân, người hiểu biết về kỹ
thuật diễn xướng cũng như kiến thức về Nhã nhạc còn quá ít ỏi
... thực tế đó đã và đang đặt ra nhiều vấn đề nan giải và bức
xúc về công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị.
 |
|
| |
|
Từ sau năm 1975,
Chính phủ, Bộ Văn hóa Thông tin và lãnh đạo của tỉnh Thừa Thiên
Huế đã có nhiều chủ trương, quyết định để bảo tồn loại hình văn
hóa độc đáo này. Trong Quyết định 105/TTg ngày 12-2-1996 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Dự án Quy hoạch Bảo tồn và phát huy
giá trị di tích cố đô Huế 1996 - 2010, thì một trong những mục
tiêu bảo tồn được xác định là: bảo tồn di sản văn hóa phi vật
thể cung đình Huế, trong đó được khẳng định là nhạc cung đình,
múa cung đình, tuồng cung đình và lễ hội cung đình. Từ năm 1992,
nhà hát Nghệ thuật Cung đình Huế thuộc Trung tâm Bảo tồn Di tích
Cố đô Huế ra đời, chuẩn bị các cơ sở phục vụ cho công tác bảo
tồn âm nhạc cung đình Huế. Để đảm bảo có không gian diễn xướng
tương ứng theo lịch sử, Trung tâm BTDTCĐ Huế đã triển khai tu bổ
các công trình như Duyệt Thị Đường, Lương Khiêm Đường, Nam Giao,
Thế Miếu. Bên cạnh đó đã tổ chức nhiều chương trình, đề tài
nghiên cứu liên quan đến âm nhạc cung đình.
Tháng 3/1994 UNESCO
đã phối hợp với Bộ Văn hóa Thông tin, UBND tỉnh, Trung tâm
BTDTCĐ Huế tổ chức Hội nghị quốc tế về bảo vệ và giữ gìn phục
hồi văn hóa phi vật thể vùng Huế.
Tiếp theo là các dự
án đào tạo được Bộ Văn hóa Thông tin, các Quỹ của UNESCO, Chính
phủ Nhật Bản ... tài trợ cho các lớp nhạc công, diễn viên ca múa
cung đình.
Tháng 9/1996, Dự án
đào tạo Nhã nhạc đầu tiên ở Việt Nam đã được xây dựng và tổ chức
khai giảng tại trường ĐH Nghệ thuật Huế, với 15 sinh viên theo
học các nhạc cụ thuộc dàn Đại nhạc và Tiểu nhạc. Sau đó, năm
1997 - 2000, JFAC đã tài trợ để tổ chức các hội nghị, tọa đàm về
Nhã nhạc với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà
quản lý và đào tạo của nhiều nước như Nhật Bản, Phi-lip-pin,
Việt Nam.
Cuối tháng 8/2002,
phối hợp với Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam, Viện Âm nhạc Việt
Nam, Trung tâm BTDTCĐ Huế, đã tổ chức Hội thảo Quốc tế về Âm
nhạc cung đình Huế - Nhã nhạc, với sự tham gia của nhiều nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm góp phần thúc đẩy công cuộc
bảo tồn di sản Nhã nhạc.
Bên cạnh đó, nhà hát
Truyền thống cung đình Huế đã được thành lập (trực thuộc Trung
tâm BTDTCĐ Huế) bước đầu đã bảo tồn được một số bản nhạc như: 10
bản Ngự (Phẩm tuyết, Nguyên tiêu, Hồ quảng, Liên hoàn, Bình bán,
Tây mai, Kim tiền, Xung phong, Long hổ, Tẩu mã), Long đăng, Long
ngâm, Tiểu khúc...; các bản nhạc thường dùng trong dàn Đại nhạc
(Tam luân Cửu chuyển, Thái bình Cổ nhạc, Đăng đàn cung, Phú lục,
Tẩu mã, Bông, Mã vũ, Mang, Đăng đàn đơn, Đăng đàn kép) cùng một
số bài bản khác. Sự góp sức của đoàn Nghệ thuật Truyền thống Huế
(thuộc Sở Văn hóa Thông tin và Câu lạc bộ Phú Xuân cũng góp phần
tích cực vào việc bảo tồn di sản Nhã nhạc.
Cùng với việc phục
hồi các tác phẩm kể trên, Nhà hát Nghệ thuật Cung đình Huế của
Trung tâm BTDTCĐ Huế đã tiến hành biểu diễn phục vụ khách đến
Huế tham quan, nghiên cứu. Tổ chức nhiều đợt tuyên truyền ở các
nước Châu Á, Châu Âu như: Hàn Quốc, Lào, Pháp, Bỉ, Áo,
Lucxămbua, đã tham gia tích cực các chương trình nghệ thuật của
Festival Huế 2000, 2002. Đặc biệt từ ngày 01/02 đến 14/02/2004,
Nhà hát đã đi biểu diễn Nhã nhạc cung đình tại các thành phố
Montreuil, Arras, Areueil, Lyon, Marseille, thủ đô Paris (thuộc
Cộng hòa Pháp) và thủ đô Bruxelles (thuộc Vương quốc Bỉ). Trong
đợt lưu diễn này, tại văn phòng UNESCO (Pháp), bằng chứng nhận
Di sản Nhã nhạc Việt Nam là Kiệt tác Phi vật thể và Truyền khẩu
của Nhân loại đã được UNESCO trao cho Huế.
Tỏa sáng với chức
năng xã hội mới: khẳng định truyền thống văn hóa Việt Nam.
Trung tuần tháng
8/2002, bộ hồ sơ Nhã nhạc đã được Trung tâm BTDTCĐ Huế thực hiện
và Chính phủ đã ký quyết định gửi đến UNESCO đăng ký ứng cử vào
Danh mục Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu nhân loại.
Hồ sơ Nhã nhạc bao
gồm: trên 100 trang (hồ sơ viết), gần 100 trang phụ lục, trên 50
ảnh tư liệu và hiện trạng, phim slide, băng hình thuyết minh (10
phút), băng hình minh họa (70 phút), cùng nhiều tài liệu liên
quan khác. Hồ sơ đã khẳng định Nhã nhạc là loại hình âm nhạc
cung đình đạt đỉnh cao vào thế kỷ 19 ở Việt Nam, Huế là trung
tâm hội tụ và lan tỏa các giá trị này. Với các giá trị của không
gian, bối cảnh, các kỹ năng kỹ thuật, cách thức diễn xướng,
trình tấu, vị thế mang tính chất khẳng định bản sắc văn hóa thực
trạng của công cuộc bảo tồn và chương trình hành động...
Ngày 7/11/2003, Nhã
nhạc - Nhạc Cung đình Việt Nam đã được UNESCO công nhận là kiệt
tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại cùng với 27 kiệt
tác khác của Châu Á (10); Châu Mỹ La tinh, vùng Caribê (6); Châu
Âu (4); Châu Phi (2); vùng Trung Đông (3), Đa quốc gia (2).
Với những giá trị
nổi bật, Nhã nhạc - Nhạc Cung đình Việt Nam, bằng tất cả những
gì còn lại ở Huế chắc chắn sẽ tiếp tục được giữ gìn và bảo tồn
một cách hiệu quả, góp phần cùng với các loại hình di sản văn
hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam khẳng định vị thế của một
dân tộc, một quốc gia trong khu vực và thế giới.
Những giải pháp
trọng tâm trong việc bảo tồn và phát huy giá trị ở giai đoạn
tới.
Việc bảo tồn các
loại hình văn hóa phi vật thể không phải chỉ dựa vào trí tuệ một
cá nhân, một tập thể, cũng không phải là công việc một sớm một
chiều, mà phải có sự nổ lực của các nhà khoa học, các nghệ nhân,
nghê sĩ, các nhà quản lý và của tất cả mọi ngưòi.
Một trong những vấn
đề then chốt là phải tiến hành điều tra các giá trị văn hóa liên
qan đến Âm nhạc cung đình Huế, xây dựng kế hoạch các sưu tập tư
liệu sách vở, ảnh, phim, băng nhạc, đĩa hát...Qua đó, cần tư
liệu hóa các tác phẩm âm nhạc để dàn dựng các chương trình bảo
tồn, đồng thời nhân bản tư liệu để cất giữ, đề phòng mất mát,
nhất là điều kiện thời tiết khắc nghiệt ở Huế.
Hơn nữa, cần tiếp
cận những nghệ nhân, nhân chững sống còn hiểu biết về âm nhạc
cung đình, tiến hành thu băng, chụp hình, quay phim những diễn
xuất giai điệu, ca từ mà họ trình bày. Hiện tại, những nghệ nhân
xưa đã lần lượt ra đi, hạn hữu còn lại một vài vị cũng đã qua
tuổi "cổ lai hy". Ví dụ, ông Lữ Hữu Thi đã bước sang tuổi 94,
ông Nguyễn Mạnh Cẩm cũng đã tròn 90, ông Trần Kích cũng đã qua
tuổi bát thập...vì vậy phải khẩn trương khai thác những tri thức
kỹ năng, kỷ xảo quý giá còn ở nơi họ. Cùng với sự tiếp cận này,
phải xây dựng một chế độ đãi ngộ thích đáng đối với các nghệ
nhân để họ nhiệt tình truyền nghề lại cho các thế hệ kế tiếp.
Công tác tuyên
truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng không kém
phần quan trọng, nhằm góp phần nâng cao trình độ thưởng thức,
huy động cái sở tri của mọi tầng lớp nhân dân về âm nhạc cung
đình. Mở rộng tuyên truyền đến khách du lịch nước ngoài bằng các
cuộc biểu diễn tại không gian diễn xướng lịch sử, mà âm nhạc
cung đình đã thể hiện. Kêu gọi sự đóng góp tri thức của các bậc
thức giả: tranh thủ sự đầu tư, hổ trợ của các cá nhân, tổ chức
trong nước và nước ngoài cả về kinh phí, phương tiện, tư liệu, ổ
chức các đợt biểu diễn tuyên truyền Nhã nhạc ở nước ngoài.
Điều đáng quan tâm
khác là phải thành lập Hội đồng khoa học gồm các nhà khoa học,
các nhà nghiên cứu có uy tín để thường xuyên kiểm chứng các khúc
nhạc, lời ca nhằm kịp thời uốn nắn, chỉnh lý, thậm chí loại bỏ
những sai sót không đáng có, tránh sự cải biên tùy tiện làm giảm
các giá trị đích thực của âm nhạc truyền thống.
Ngoài ra, cần xúc
tiến thành lập một Nhà/phòng bảo tàng Âm nhạc cung đình Huế, có
thể hoạt động bên cạnh hoặc trong lòng Duyệt Thị Đường, để trưng
bày lưu trữ những nhạc cụ, nhạc bản, phục trang, hình ảnh, tư
liệu những đĩa hát xưa và nay, những băng từ ghi âm, ghi hình,
các tài lệu nghe nhìn về nhạc cung đình Hế, các địa điểm diễn
xướng, để làm cho các kiến trúc lịch sử này sống lại trong môi
trường văn hóa vốn có của nó.
Với sự kiện Nhã nhạc
được công nhận Di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại,
văn hóa Huế lại một làn nữa được đăng quang, chắc chắn sẽ tạo
thêm những điều kiện mới cho sự phát triển của trung tâm văn hóa
du lịch này. Bảo tồn di sản văn hóa âm nhạc cung đình luôn gắn
với bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô, bởi lẽ hai loại
hình văn hóa này luôn đan xen, hòa quyện để làm nên vẻ đẹp viên
mãn của di sản văn hóa Huế.
P.T.D - N.P.H.T
Chú
thích: Phan Tiến Dũng - Phó Giám đốc TTBTDT Cố đô Huế
Nguyễn Phước Hải Trung: Phó Giám đốc Bảo
tàng Mỹ thuật Cung đình Huế
|