|
LTS: Âm nhạc cung đình Việt Nam-Nhã nhạc (triều Nguyễn) vừa được
UNESCO công nhận là một di sản văn hóa phi vật thể của thế giới.
Vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đặc
biệt quan tâm. Để nhận thức rõ hơn về giá trị của Nhã nhạc, Tạp
chí Di sản văn hóa xin trích đăng một phần bản tham luận của
GS.TS Trần Văn Khê.
Nhạc
Cung đình là một bộ môn âm nhạc truyền thống đặc sắc của Việt
Nam, đặc biệt Nhã Nhạc Huế đã có giá trị rất cao về phương diện
lich sủ lẫn nghệ thuật. Tuy được sử dụng ở chốn cung đình, nhưng
việc sáng tạo và biểu diễn hầu hết đều do nhữn nhạc sĩ, nghệ sĩ
xuất thân từ trong dân gian, nhờ có tay nghề cao mà được sung
vào cung để phục vụ cho triều đình.
Đây là một bộ môn âm
nhạc vô cùng tinh vi mà cho đến nay chúng ta vẫn chưa nhậ thức
được đầy đủ giá trị của nó. Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, Nhạc
cung đình là một bộ môn duy nhất được ghi vào sử sách từ xa xưa,
trải qua bao thăng trầm của các triều đại, bao biến thiên của
thời cuộc mà vẫn còn lưu lại được một di sản đáng kể có thể sử
dụng để nghien cứu về nhiều mặt: nhạc khí đa dạng, sắp xếp dàn
nhạc tinh vi, nhạc ngữ độc đáo, bài bản dồi dào và quan điểm
thẩm mỹ sâu sắc.
Trong Khâm định Đại
Thanh Hội điển sử lệ ( quển 538, tờ 3b) xuất bản năm 1908 ( thư
viện Hội châu Á: Socété Asatique) có ghi rành rẽ chi tiết của
dàn nhạc cung đình, có mặt cùng một lúc với phái đoàn hữu nghị
do vua Quang Trung phái sang Trung Quốc, dưới thời vua Càn Long
(1789), sử gia nhà Thanh đã gọi là An Nam Quốc nhạc.
Năm 1802, dàn nhạc
đổi tên là Việt Nam Quốc nhạc, vì vị vua Gia Long lên ngôi năm
1802, đăt tên nước là Việt Nam.
Ngược dòng thời
gian, đã có một dàn Đại nhạc cung đình đầu tiên xuất hiện trong
sử sách, có lẽ là vào đời nhà Trần, trong quyển "An Nam chí
lược" của Lê Tắc.
Đời Hậu Lê, có nhiều
bộ sử ghi lại sự kiện năm Thiệu Bình thứ tư( 1437) dưới thời vua
Lê Thái Tông ( 1434-1442), nhà vua giao cho Nguyễn Trãi cùng với
Lương Đăng có nhiệm vụ định ra Nhã nhạc cho triều đình.
Lương
Đăng muốn sắp đặt dàn Đường thượng chi nhạc giống như dàn nhạc
Triều hạ yến hưởng chi nhạc của nhà Minh và Đường Hạ chi nhạc
giống như các dàn Đơn bệ đại nhạc vầ Giáo phường ty nữ nhạc của
nhà Minh.
Theo Đại Việt
sử ký toàn thư và Ức trai thi tập thì Nguyễn Trãi đã dâng biểu
cho nhà vua từ chối nhiệm vụ được giao phó vì không tán thành
quan điểm của Lưong Đăng. Bức thư của Nguyễn Trãi là bài học quý
giá về thái độ của một ngưòi nhạc sĩ chân chính đối với nền âm
nhạc dân tọcc, trong đó có những suy tư về âm nhạc rất sâu sắc
như:
Hoà bình là
gốc của nhạc, thanh âm là căn của nhạc, hài hòa là tính chất của
nhạc. Thần mong rằng Bệ hạ thương dân để cho trong cả nước không
có một âm thanh nào nói lên sự bất bình hay buồn thảm của dân.
Nếu dân còn buồn thảm hay bất bình tức là Bệ hạ đã đánh mất một
cái gốc của nhạc.
Ngoài ra còn
nhiều quyển sử khác có ghi đôi nét về Nhã cung đình qua các
thời, như Quốc triều thông lễ (triều vua Trần Thái Tông), Trần
triều đại diễn (triều vua Trần Dụ Tông), Lê triều hội điển, Lịch
triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Vũ Trung tùy bút
của Phạm Đình Hổ...
Những bài
thuộc loại Cửu tấu, ngoài âm nhạc còn có lời ca được ghi đầy đủ
trong quyển Đại nam Hội điển sự lệ, như trong Miếu Triệu Tổ
(miếu thờ Nguyễn Kim), tên các bài ca phải có chữ Hòa, chẳng hạn
Hàm hòa (trong lúc nghinh thần), Gia hòa (lúc hiến lụa), Tương
hòa (trong lúc sơ hiến, dâng rượu lần đầu), Dự hòa (trong lúc á
hiến, dâng rượu lần thứ nhì), Ninh hòa (trong lúc chung hiếnm
dâng rượu lần cuối cùng), Mỹ hòa (lúc dâng trà). Túc hòa (lúc
triệt hạ các lễ vật), An hòa (lúc tiễn thần), ưng hòa (lúc mang
đuốc đi, sau khi đốt sớ).
Trong Văn
miếu thờ Đức Khổng tử thì tên những bài hát phải có chữ Văn,
trong loại Yến nhạc tên bài hát phải có chữ Thành (dưới triều
Gia Long), chữ Khánh (thời Minh Mạng thứ 18) hay chữ Phúc (thời
Minh Mạng thứ 21) v.v...
So với các bộ môn
khác, Nhạc cung đình có một giá trị nghệ thuật rất cao mà trước
tiên là vì triều đình có đủ quyền lực chính trị và khả năng tài
chính để quy tụ những nhạc sĩ cũng như nhạc công tài năng từ
khắp nơi trong đất nước, rồi tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho
họ luyện tập kỹ thuật, trau dồi nghệ thuạt để trở thành những
nghệ sĩ chuyên nghiệp, sáng tác dồi dào, biểu diễn tinh vi.
Các nhạc khí
được dùng trong Nhạc cung đình cũng được chế tạo rất kỹ, chạm
cẩn khéo léo, tinh xảo hơn nhạc khí dùng trong dân gian, lại có
đầy đủ màu âm: tiếng kim, tiếng thổ, tiếng trong, tiếng đục,
tiếng trầm, tiếng bổng, tiếng tơ, tiếng trúc, tiếng da, tiếng đá
(khánh), tiếng đồng. Về độ cao có tiếng trầm của dây đài đàn tỳ
bà, tiếng cao vút vi vu của tiếng sáo.
Nhìn chung,
dàn nhạc cũng đa dạng và quy mô hơn các dàn nhạc khác, chẳng
những đa dạng và quy mô mà còn rất đặc biệt trong sự phối hợp
màu âm, không quan tâm đến số lượng, mà chú trọng đến chất
lượng. Khi hòa dàn thì không nhạc khí nào có thể át các nhạc khí
khác mà mỗi loại âm thanh đèu có thể phân biệt rõ ràng.
Lại không có
bộ môn nào huy động nhiều diễn viên và xiêm y phong phú như nhạc
cung đình.
Cuối cùng,
Nhạc cung đình còn đặc biệt ở điểm bao gồm tất cả các bộ môn âm
nhạc khác, từ Lễ nhạc (dùng vào các cuộc tế lễ lớn nhỏ của cung
đình, trong các chùa miếu), nhạc thính phòng, sân khấu, kể cả
các cũ điệu, nà mỗi bộ môn đều có những nghệ sĩ thượng thặng
chuyên sáng tạo và biểu diễn.
Theo dòng
lịch sử, không đi vào chi tiết, chỉ ghi những nét đại cương
trong việc tổ chức Nhạc cung đình qua các triều đaịo, thì Nhạc
cung đình Việt nam đã có một truyền thống rõ rệt.
Nhà Lý (thế
kỷ thứ 11-13)
Tuy không có
ghi lại trong sách sử, nhưng xem bức chạm trên các tảng đá ở
chân cột chùa Phật Tích (Bắc Ninh), chúng ta thấy có 10 nhạc
công chia thành hai nhóm. Những nhạc khí họ sử dụng bao gồm:
Phách (hai miếng tre gõ vào nhau), đàn gáo, ống sáo ngang, đàn
tranh, ống sênh (loại khèn bè). Ngay chính giữa là một hoa sen
cách điệu hóa, tiếp theo là ống sênh, đàn tỳ bà, ống tiêu (thổi
dọc), dà loại nguyệt cầm, trống loại phong yêu cổ (một tay cầm
dùi, một tay vỗ như loại trống ghì nằng của Chăm mà hình thắt
đáy lưng ong).
Nhà Trần (thế
kỷ thứ 13-15)
Theo An nam
chí lược của Lê Tắc thì Đại Nhạc dùng trong triều đình gồm kèn
tất lật (cùng loại vói Pili Trung Quốc, Pili Triều Tiên và
Hichiriki Nhật Bản), tiểu quản loại ống thổi dọc), tiểu bạt
(chập chõa nhỏ) và phạn oỏ (trống cơm, có chú thêm "gốc từ nhạc
khí Chiêm Thành, người Chăm) và một nhạc khí gọi là "đại cấu".
Về nhạc khí này, cố Giáo sư Hoàng Xuân Hãn khi tra các Từ
Nguyên, Từ Hải không thấy chữ "cấu" nên cũng không biết đó là
loại gì, vì thế khi thấy trong chữ "cấu" có bộ "cung" nên Giáo
sư cho rằng đó là một nhạc khí có cung kéo).
Tiểu nhạc
dùng trong dân dã, gồm có cầm, tranh, thất huyền, song huyền và
tiêu loại. Không rõ "cầm" có phải là gupin (có 7 dây tơ) của
Trung Quốc truyền sang hay loại đàn nào khác. Thất huyền đàn 7
dây mà guqin của Trung Quốc cũng có 7 dây.
Nhà Lê (thế
kỷ thứ 15 đến cuối thế kỷ 18)
Lương Đăng
phỏng theo nhạc nhà Minh lập ra hai dàn nhạc Đường thượn chi
nhạc, Đường hạ chi nhạc (mà chúng tôi đã nhắc đến trong đoạn
đầu) nhưng không đwocj dùng lâu. Do các quan trong triều như
Nguyễn Trãi, Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận phản đối nên về sau hai
dàn nhạc ấy được thay thế bằng hai đôi Đồng Văn, Nhã nhạc và sau
đó lần lần Giáo phường đã thay thế hai đội này.
Trong Lê
triều hội điển và Lịch triều hiến chương loại chí đều có ghi về
8 thể loại nhạc (Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc, Đại triều
nhạc, Thường triều nhạc, Đại Yến nhạc, Cung trung chi nhạc, Cứu
nhật nguyệt giao trùng nhạc) cùng nhiều điệu múa liên quan.
Nhà Nguyễn
(đầu thế kỷ 19 đến năm 1945)
Tổ chức rất
chặt chẽ và được ghi trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (bản
chữ Hán quyển 99, và trong bản dịch tiếng Nôm in tại Thừa Thiên
do Nàh Xuất bản Thuận Hóa phát hành năm 1993, quyển 7, trang
68-118) đã ghi rõ về tổ chức các dàn nhạc, gồm: Đại nhạc, Nhac
nhạc, Huyền nhạc... Tế giao, Miếu nhạc, Yến nhạc... Với những
nhạc cụ khác nhau và cách thức ứng xử trình diễn khác nhau.
Tóm lại, chỉ mới
nhìn qua, chưa đi vào bề sâu, mà giá trị của Nhạc cung đình đã
quá hiển nhiên. Mới đi qua một phần chiều dài của lịch sử, chưa
đi rộng trong không gian để đối chiếu nhạc cung đình Việt Nam
với Yayue (Trung Quốc), Gagaku (Nhật Bản), Ah Ak, Tang Ak. Hyang
Ak (Triều Tien), mà chúng ta cũng thấy lòng tràn đầy niềm hãnh
diện.
Thời gian qua
chúng ta đã tìm hiểu Nhạc cung đình qua lịch sử cũng như đánh
giá Nhạc cung đình trong hiện tại. Nhưng quan trokngj nhất là
trước hết chúng ta nênđựng lại một cách trung thực các dàn Đại
Nhạc, Nhã nhạc như ngày xưa, từ trang phục nhạc công đến phong
cách biểu diễn, để giữ gìn một tư liệu về lịch sử cho người ngày
nay và mai sau biết Nhạc cung đình của Việt Nam như thế nào,
cũng giống như Nhật Bản ngày nay vẫn còn giữ lại dàn Gagaku (Nhã
nhạc) hệt như dàn nhạc thành lập từ thế kỷ thứ 10.
Nhiệm vụ của
chúng ta là một khi được thừa hưởng gia tài của ngàn xưa thì
trước hết giữ gìn nghuyên vẹn di sản văn hóa đó. Nếu có những
cải biên đổi mới, cũng phải vô cùng thận trọng, vì nếu không
hiểu tháu nhạc thời xưa mà đưa vào những yếu tố mới không phù
hợp, có thể làm biến chất Nhạc cung đình.
Nếu phỏng
theo tinh thần của Nhạc cung đình mà tạo dàn nhạc đặt bản mới
thì không thể sử dụng những tên truyền thống như Đại nhạc hay
Nhã nhạc phải đặt tên mới để khỏi lầm lẫn Nhạc cung đình truyền
thống với nhạc cải biên.
Một bức
tranh, một bức tượng có gí trị nghệ thuật tự ngàn xưa thì không
ai được phép vì muốn canh tân mà tự tiện vẽ thêm màu hay ra tay
đục đẽo để phá hỏng gí trị mộ nghệ phẩm xưa. Nhạc cung đình cũng
vậy.
Và, mong sao những nhà văn hóa hết sức thận trọng trong việc
"cải biên, đổi mới" Nhạc cung đình Việt Nam.
|