Trang chủ | Tìm kiếm | Góp ý | Tra cứu | Sơ đồ web


NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH BIỂU DIỄN
 
  Các bài viết khác:
   1. Nhà hát Duyệt Thị Đường
   2. Các loại hình hoạt động

1. Múa "Vũ phiến":

   Đây là điệu múa thường được biểu diễn trong những buổi yến tiệc, tiệc tân hôn, dành cho Hoàng hậu, Phi tần, Công chúa. Nội dung điệu múa: ca ngợi cuộc sống lứa đôi, chúc tụng cho sự hoà hợp, hạnh phúc của gia đình. 

 

Múa Vũ phiến

  Múa Trình Tường Tập Khánh

2. Múa "Trình Tường Tập Khánh":

   Đây là điệu múa được sử dụng trong các ngày lễ  Tứ - Ngũ Tuần Đại khánh của nhà vua. Trong điệu múa có bốn vị thiên thần cân đai mũ mão oai phong lẫm liệt, vâng mệnh Thượng Đế xuống trần, mỗi người cầm một câu liễn:

Nguyên văn:

Dịch nghĩa:

Thiên Tử  Vạn Niên

Chúc vua sống lâu muôn tuổi

Vạn Thọ Vô Cương

Tuổi thọ vô biên

Quần Phương Tập Khánh

Bốn phương đều chúc mừng

Vạn Bảo Trình Tường

Muôn dân tiến của báu, dâng điềm lành.

3. Múa "Lân mẫu xuất lân nhi":  

 

 

Múa Lân mẫu xuất lân nhi

Theo quan niệm của người phương Đông, trong đó có Việt Nam, Long, Lân, Quy, Phụng là bốn con vật linh thiêng rất được quý trọng (Tứ Linh). Trong dân gian vùng đồng bằng Bắc bộ từ xưa đã có điệu múa "Tứ linh". Về sau, triều đình nhà Nguyễn đã cho dàn dựng thành một điệu múa của cung đình để phục vụ cho các dịp khánh hỉ trong cung. "Lân mẫu xuất lân nhi" là vũ khúc được xây dựng trên cơ sở điệu múa "Tứ linh", có nội dung ca ngợi niềm hạnh phúc gia đình và sự trường tồn của nhân loại.       

 4.  Múa "Lục cúng hoa đăng": 

 
 

Múa Lục cúng hoa đăng

  "Lục cúng hoa đăng" có nguồn gốc từ một điệu múa dùng trong nghi lễ Phật giáo: Múa "Lục cúng" nghĩa là sáu lần cúng, được thể hiện qua sáu lần múa, mỗi lần múa dâng lên một thứ đồ cúng như: hương, hoa, đăng, trà, quả, thực. Về sau, dưới triều vua Minh Mạng, điệu múa này được đưa vào cung đình và dàn dựng thành múa "Lục cúng hoa đăng" để biểu diễn trong những ngày lễ Vạn thọ, Thánh thọ, Tiên thọ ... Trong điệu múa, các vũ sinh vừa nam, vừa nữ, hoá trang thành Tiên Đồng - Ngọc Nữ , hai tay cầm hai chậu đèn hoa sen vừa múa vừa hát trong ánh đèn hoa lung linh mờ ảo, tạo nên sự trang nghiêm và lộng lẫy.  

5. Múa " Bát - Dật":

   Vũ khúc "Bát - Dật" có từ đời cổ, đến năm Minh Mệnh nguyên niên (1820) vua sai viện Hàn - Lâm sửa lại để múa những khi tế giao, miếu, xã tắc, lịch đại đế - vương và đức khổng tử.

   Bát - Dật có nghĩa là 8 hàng. Trình diễn vũ khúc này phải dùng 8 hàng vũ - sinh đồng nam (con trai), mỗi hàng 8 người, cộng là 64 người. Có hai ban: võ - vũ - ban và văn - vũ - ban. Bên võ hiện cờ tinh, bên văn hiệu cờ Mao. Mỗi bên có một vũ sư điều khiển.

 

 Vũ khúc Bát - Dật

6. Múa "Tam Quốc - Tây Du"( Gồm có hai tích):

   1. Kể chuyện ba người anh hùng áo vải Lưu Bị, Quan vũ, Trương Phi kết nghĩa ở vườn đào, thề một lòng cứu dân giúp nước, khởi binh dẹp giặc khăn vàng và trừ Đổng Trác, khôi phục lại một phần gian sơn nhà Hán.

   2. Đời nhà Đường vua Thái Tông xuống chơi địa phủ, thấy vong hồn thập loại chúng sinh chịu kiếp trầm luân khổ ải, bao xiết đau lòng. Khi trở về vua sai Huyền Trang sang Tây - Trúc thỉnh kinh phật, mong phả độ cho các âm hồn siêu thoát.

   Múa Tam quốc - Tây Du có 7 khúc hát diễn tả hai tích kể trên, do 48 nam nữ vũ - sinh trẻ tuổi, đầu đội mủ hoa sen thắt dây lưu ngũ sắc; trong mặc áo thúy - lục - cộc, ngoài phủ áo lá tua nịt dây; xiêm trường; quần giáp; chân quấn xà - cạp, đi bít tất trắng; vai nịt chữ thập, đeo hai bên hai cái đèn giấy vẽ hoa, trong thắp nến; tay thắp nến vừa múa vừa hát.

 

Múa Tam quốc Tây du

  Múa Nữ tướng xuất quân

7.  Múa "Nữ tướng xuất quân":

   Đây là vũ khúc được múa trong những ngày lễ chiến thắng , Hưng - quốc - khánh -  niệm, những buổi dạ tiệc và tiếp đón sứ thần ngoại quốc. Trong điệu múa các vũ sinh là những người con gái đóng vai hai Bà Trưng nhan sắc kiều diễm, đội mũ cửu phượng, mặc áo chiến bào, lưng thắt lệnh tiển tay cầm song kiếm và đội nữ binh gồm có 8 người má phấn môi son vừa múa vừa hát theo tiết tấu của âm nhạc.

NHÃ NHẠC

1. Đại nhạc:

   Đây là hệ thống dàn nhạc dùng trong một số nghi lễ lớn của triều đình như: Lễ tế Nam Giao, Tế Miếu và các buổi Đại Triều... Gồm một số nhạc cụ như Trống, Kèn và các nhạc cụ bộ gõ có âm lượng lớn.

Cấu trúc của dàn nhạc cụ đại nhạc gồm:

Họ gõ:

-Trống đại  : 1 cái.
- Chiêng lớn  : 1 cái.
- Trống chiến  : 1 hoặc nhiều hơn tuỳ theo số lượng kèn, theo tỉ lệ 1:1.
- Bồng  : 1 cái.
- Não bạt (xập xoã)  : 1 cái.
- Mõ sừng trâu  : 1 cái.
- Trống cơm  : 1 cái.

Họ hơi:

     - Kèn bầu ( kèn đai).

     - Kèn lỡ (kèn trung)

Ba bài bản tiêu biểu trong dàn đại nhạc:

+ Tam Luân Cửu Chuyển:  Đây là một bài bản quan trọng của Đại nhạc, thường được tấu lên để mời gọi thần linh về quy tụ chứng giám cho buổi lễ.

+ Song tấu trống kèn: "Mã vũ - Du xuân - Tấu mã": Đây là một liên khúc gồm ba bài: Kèn Bóp, Mã Vũ và Tẩu Mã. Những bài bản này có tiết tấu sinh động, phù hợp với không khí của những buổi yến tiệc trong hoàng cung.

+ Trống Thái Bình (Thái Bình Cổ Nhạc): "Thái Bình Cổ Nhạc" là một bài bản thuộc hệ thống Đại nhạc. Đây là một bài bản lớn, trong đó nhạc cụ Trống chiến giữ vai trò chủ đạo, kèn Sona đảm nhận phần giai điệu trên nền nhịp của Mõ và Bạt. Thái Bình Cổ Nhạc thường được sử dụng để cầu cho Quốc thái dân an, phong điều vũ thuận, cuộc sống ấm no hạnh phúc. 

 

2.Tiểu Nhạc:

Các bài bản chính thống của dàn Tiểu Nhạc mà Nhà hát đang biểu diễn:

   Hệ thống 10 bài lên hoàn (10 bản tàu, hay thập thủ lên hoàn): - phẩm tuyết, nguyên tiêu, hồ quảng, liên hoàn, bình bán, tây mai, kim tiền, xuân phong, long hổ, tẩu mã. Ngoài ra trong hệ thống tiểu nhạc còn có các bài bản khác như: ngũ đối thượng, ngũ đối hạ, long ngâm, long đăng, tiểu khúc, phú lục địch, phụng vũ, bài thiều. Trong đó: "Phú lục Địch" là một bài bản thuộc hệ thống Tiểu nhạc có tính chất tao nhã, vui tươi, sang trọng. Ở bài bản này, nhạc cụ Địch (một loại Sáo trúc) giữ vai trò chủ đạo nên có tên là "Phú lục Địch".

- Nhạc cung đình Việt Nam - Nhã nhạc cung đình Huế
- Bài viết của G.S. Trần Văn Khê về Nhã nhạc
- Bài Viết của Th.s. Phan Tiến Dũng và Nguyễn Phước Hải Trung về công tác bảo tồn Nhã nhạc

- Ảnh sưu tập

Trở về