Di tích kiến trúc được
xem như là một loại hình tài sản văn hoá. Điều đặc biệt là tài sản
này chứa đựng những giá trị rất cô đọng của một giai đoạn lịch sử
nhất định của một dân tộc, một đất nước và của những giai đoạn lịch
sử nối tiếp nhau. Tài sản đó biểu hiện sự kết tinh những giá trị
trong những cấu trúc về kỹ thuật xây dựng, tổ hợp không gian
kiến trúc, sự biểu đạt về thẩm mỹ nghệ thuật, ý thức về sự giao
cảm giữa thiên nhiên, môi trường và con người. Tất cả gắn liền
với giá trị nhân văn về những giá trị văn hoá phi vật thể.
 |
|
|
Cửa Hiển Nhơn
- ảnh chụp năm 1993 |
|
Với ý nghĩa đó, bảo
tồn di tích kiến trúc đã thực sự được thừa nhận là một lĩnh vực
hoạt động khoa học, kỹ thuật tổng hợp để nhằm hướng đến giữ gìn,
bảo lưu và chuyển giao một cách toàn diện, đầy đủ và chân xác
các giá trị hữu hình và vô hình của tài sản văn hoá kiến trúc
cho các thế hệ mai sau.
Như vậy, bảo tồn di
tích kiến trúc cũng luôn mang tính lịch sử như bản thân di tích
kiến trúc. Nó có sự phát triển và thừa nhận các thành tựu mới
cũng như kế thừa các kinh nghiệm quý báu của giai đoạn trước để
lại. Nó cũng gắn bó với các tập thể, những con người cụ thể ở
trong những điều kiện khác nhau với những nhận thức và với trình
độ chuyên môn khác nhau và đã đạt được kết quả hoạt động nghề
nghiệp khác nhau.
Tổng thể Di tích
triều Nguyễn có niên đại không ‘‘già lắm’’ so với toàn bộ kiến
trúc của dân tộc. Là một triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt
Nam (1802-1945), triều Nguyễn đã để lại cho chúng ta một di sản
văn hoá khá đồ sộ về quy mô, loại hình di tích và chúng vẫn đang
còn gắn bó với các nhân chứng sống. Sự thừa nhận di tích triều
Nguyễn là di sản văn hoá nhân loại, đứng ngang hàng với các di
tích có hàng nghìn năm tuổi trên thế giới đã gạt bỏ ý nghĩa tuổi
tác để thừa nhận sự bình đẵng của các giá trị văn hoá nổi bật
toàn cầu của mỗi dân tộc. Tuy công cuộc bảo tồn di tích Huế là
một sự nghiệp đang còn rất mới mẻ nhưng cũng đã đạt được những
thành tựu nổi bật căn bản bền vững cho sự phát triển chuẩn mực
và đã được quốc tế thừa nhận.
Lịch sử bảo tồn di
tích Huế còn ghi nhận là mặc dầu Đạo luật về bảo vệ di tích từ
những năm 1913 dưới thời kỳ Pháp thuộc đã được ban hành ở Việt
Nam với danh sách xếp hạng các di tích do Viễn Đông Bác Cổ
(EFEO) đưa ra, nhưng cho đến năm 1945 vẫn không có danh mục di
tích Huế, đó là điều hiển nhiên vì chúng vẫn đang còn là công
trình được sử dụng thuộc sở hữu của triều đình. Mọi việc sửa
chữa, thay đổi đều do triều đình, mà trực tiếp là bộ Lễ và bộ
Công đảm nhận. Điều đó nói lên rằng một số công trình đã được
xây dựng thời Gia Long, Minh Mạng và đến thời Khải Định, Bảo Đại
còn ghi lại các dấu ấn về sửa chữa và cải tạo. Các dấu ấn này
điều được xem xét phân tích khoa học với quan niệm là ‘‘ nguyên
gốc’’ để bảo tồn và tu bổ.
| |
 |
| |
Lăng Đồng
Khánh |
Từ năm 1945 về sau,
Huế được thừa nhận tư cách là di tích của dân tộc, song từ 1954
đến 1975 việc bảo tồn di tích này do viện Khảo cổ Sài Gòn và
Phòng Bảo tàng Di tích Huế quản lý với việc trực tiếp sửa chữa,
xây cất lại do Nguyễn Phước Tộc đảm trách. Ở giai đoạn này người
ta đã làm biến dạng di tích Huế một cách trầm trọng (như việc
xây lại Thế Miếu), nhiều cấu trúc gỗ bị thay bằng bêtông cốt
thép, các máng xối nguyên bằng đồng cũng được đúc bêtông; các
mái ngói không được lợp bằng ngói thanh lưu ly và hoàng lưu
ly; và đặc biệt phổ biến là sơn công nghiệp được quét lên các di
tích có giá trị. Công tác làm hồ sơ khoa học và xây dựng cơ sở
pháp lý cho di tích đều không được đề cập đến. Với tư cách là
một chuyên gia của UNESCO từ năm 1971-1973, ông W.Morton Brown
đã đề nghị những công việc cần thiết phải làm ở Huế phù hợp với
công ước quốc tế về bảo tồn di tích, nhưng chính quyền Sài Gòn
đã không thực hiện (báo cáo kỹ thuật của P.Pichard – UNESCO
1978).
Giai đoạn 1975-1982
việc bảo tồn di tích Huế thuộc Sở văn hoá Bình Trị Thiên quản lý
và Ban quản lý di tích cùng với Xí nghiệp tu sửa di tích thực
hiện...Mặc dầu ở trong giai đoạn kinh tế khó khăn, song một số
công việc cấp bách đã được tiến hành, chủ yếu tu bổ ở Ngọ Môn,
hồ Kim Thuỷ, tu sửa cửa Hiển Nhơn và Hữu Vu...Với sự giúp đỡ
bước đầu của UNESCO, một số lớn công trình đã được chống đỡ và
lợp tạm bằng tôn kẽm. Ở giai đoạn này người ta chưa xem trọng
các công tác như lập hồ sơ khoa học, thiết kế tu bổ... nên không
ít các sai sót xảy ra. Việc phục chế ngói lợp thanh lưu ly,
hoàng lưu ly chưa thành công. Không gian di tích lộ rõ vẻ hoang
phế, cây cối xâm thực. Để chống mối, giai đoạn này đã áp dụng
một số thuốc dùng cho nông, lâm nghiệp như DDT, 666 (ở Thế
Miếu). Các hoá chất này đã làm cho gỗ bị xám màu và các lớp sơn
son thếp vàng bị hư hại khá nặng nề - Di chứng của các hư hại
này bước đầu được các chuyên gia Ba Lan khi tu bổ Thế
Miếu(1996-1997) đã khắc phục bằng phương pháp tẩy rửa khoa học.
Như vậy, việc đánh
giá tình trạng kỹ thuật quần thể di tích Huế lúc này là rất
nghiêm trọng và mục tiêu ‘‘cứu vãn’’ di tích như một nhiệm vụ
cấp bách là phù hợp. Trên thực tế, giai đoạn cứu vãn này đã kéo
dài trong 15 năm (1982-1997) với các hoạt động bảo tồn, bảo
tàng, phát huy giá trị từng bước của các di tích do Công ty quản
lý di tích lịch sử và văn hoá Huế, sau này là Trung tâm Bảo tồn
Di tích Cố đô Huế đảm nhiệm.
 |
|
|
Phục hồi tranh
tường nội thất Cung An Định |
|
Từ năm 1982, công cuộc
bảo tồn di tích đã có những bước chuyển tiếp đáng kể. Lần đầu
tiên một ‘‘Luận chứng kinh tế kỹ thuật’’ được thiết lập và những
tinh thần cơ bản về khoa học bảo tồn đã được nêu trong luận
chứng cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị, công tác nghiên cứu
khoa học đã được chú ý và từng bước được đẩy mạnh, công tác
thiết lập hồ sơ đo đạc, hoạ và thiết kế phục hồi đã được xác
lập. Lần đầu tiên khi phục hồi Hoàng thành đã chú ý đến việc
phân tích gạch Vồ với các tiêu bản khác nhau để phục chế chân
xác. Phương pháp tu bổ hoàn nguyên bằng cách tổ hợp các thành
phần nguyên gốc (anastylos) đã được ứng dụng tu bổ sân Đại Triều
Nghi với việc ghép các viên gạch Bát tràng bị vỡ, gắn chắp những
con rồng, con giao, phẩm sơn bằng đá bị khuyết.
Bên cạnh đó, một số
công trình bằng gỗ đã được tu bổ với việc gia cường, ghép, chắp
nối,...Tuy nhiên, sự thiếu đồng bộ nhất trong việc tu bổ ở giai
đoạn này là việc bảo quản vật liệu, các vấn đề sơn thếp chưa đặt
ra, cũng như sự lúng túng về mái lợp, nên một loạt các công
trình đã xuống cấp trong vòng 5 đến 10 năm sau khi tu bổ (như
Hiển Lâm Các, Triệu Miếu, Xung Khiêm Tạ, Tả Vu, ...)
Sự tiến bộ rõ nét
trong công tác bảo tồn trùng tu di tích có thể được xác định từ
năm 1990 đến nay mà các thành tựu nổi bật có thể nêu lên là :
-
Phục
chế thành công vật liệu gốm tráng men thanh lưu ly, hoàng lưu
ly.
-
Lập hồ
sơ khoanh vùng bảo vệ theo đúng pháp lệnh của Nhà nước.
-
Xây dựng
hồ sơ khoa học để đưa di tích Huế vào danh mục "Di sản Thế
giới"
và nhạc Cung đình Huế vào danh mục "Kiệt tác Di sản Phi vật thể
và Truyền khẩu của Nhân loại".
-
Lập dự
án quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Huế 1996-2010
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
-
Xây
dựng bộ Định mức cho công tác trùng tu di tích.
-
Quản
lý di tích trên hệ thống thông tin địa lý GIS.
-
Kiểm
kê khoa học, xây dựng danh mục và quản lý bằng máy vi tính đối với
cổ vật.
-
Xây
dựng Phòng hoá nghiệm bảo quản gỗ và các vật liệu khác (vữa truyền
thống, sơn truyền thống, bảo quản chống mối mọt, nấm, côn trùng,
bảo quản kim loại, bảo tồn cây cổ thụ,...)
Từ giai đoạn 1990 đến
nay, đã có trên 80 hạng mục công trình được tu bổ vừa và nhỏ. Điều
đáng chú ý là các công trình đều được lập hồ sơ khoa học với các
bản thiết kế có chất lượng cao. Nhiều di tích quan trọng đã được
trả lại các giá trị nguyên xưa vốn có (Ngọ Môn, Thái Hoà Điện,
Thiên Định Cung, Hưng Miếu,...). Bên cạnh đó, sự hợp tác khoa học
với UNESCO, với các chuyên gia của Pháp, Italia, Nhật Bản,
Canada, BaLan, và các cơ quan, trường Đại học trên thế giới...
đã được thúc đẩy và thu được nhiều thành tựu quan trọng.
Chắc chắn những kết
quả Bảo tồn di tích Huế đã khẳng định sự đi lên bền vững của việc
giữ gìn các tài sản ở Huế và đã gây được niềm tin cho cả nước và
quốc tế để bước sang giai đoạn ổn định phát triển.
Nhìn nhận đánh giá
quá khứ về bảo tồn để rút ra bài học kinh nghiệm, song điều quan
trọng là sự nghiệp cao đẹp về bảo tồn tài sản văn hoá luôn hướng
đến tương lai để các giá trị văn hoá sẽ muôn đời tồn tại xứng
đáng là niềm tự hào của dân tộc, của đất nước 4000 năm văn
hiến./.
|