|
Trong những năm gần đây, cùng với sự ổn định và phát triển kinh
tế của đất nước, nhiều di tích lịch sử - văn hoá đã được trùng
tu, tôn tạo. Nếu chỉ nhìn nhận về số lượng công trình được tu bổ
cùng với những diện mạo rất mới mẻ, sặc sỡ và đẹp đẽ như: đình,
chùa, miếu mạo, nhà thờ họ tộc, cổng làng đến các công trình có
quy mô lớn như cung điện, khu phố cổ,... thì có thể có sự hài
lòng, thỏa mãn trước những nỗ lực cùng tiền của và công sức đã
bỏ ra cho sự bảo tồn và gìn giữ di sản văn hoá dân tộc.
 |
|
|
Trùng tu chùa
Linh Mụ |
|
Song, cách đây đã hơn 10 năm, khi khởi đầu cho một phong trào tự
phát mang tính đua tranh, người người làm di tích, nhà nhà làm
di tích,... thì đã có một số nhà nghiên cứu về kiến trúc truyền
thống, lịch sử mỹ thuật và khảo cổ... bày tỏ sự quan tâm cùng
với những lo ngại trong câu nhắn nhủ nhau ‘‘Hãy đi xem di tích
nhanh lên, nếu không muốn chiêm ngưỡng những công trình tân cổ
giao duyên’’. Điều này cho thấy tính nguyên gốc, cũng như tính
chân xác trong công cuộc bảo tồn và trùng tu di tích không những
đã trở thành một tiêu chí rất quan trọng trong khoa học bảo tồn
để đánh giá kết quả tu bổ, mà thật sự đó là một mối quan tâm lo
ngại hàng đầu của xã hội.
Tính nguyên gốc, chân xác không phải là một tiêu chí
chỉ được đánh giá bằng sự cảm nhận thông qua trực quan hay chỉ
mang ý nghĩa về thẩm mỹ. Cũng không thể biểu hiện sự tôn trọng
tiêu chí này thông qua một số phương pháp mang tính kỹ xảo khi
trùng tu di tích, ví dụ như làm cho di tích có vẻ già đi, rêu
phong hoá,... do phủ bụi thời gian. Trước đây, ở một số di tích,
sau khi tu bổ, người ta đã quét nước cháo lên, hoặc hoà tinh bột
vào vữa để nhanh chóng tạo nên sự rêu phong, hoặc dùng bồ hóng
rây lên công trình (khi vật liệu tô trát đang còn ướt) để tạo
nên cảm giác của bụi thời gian. Theo sự đánh giá ngày nay, tất cả
các giải pháp đi theo xu hướng này đều không đem lại kết quả tu
bổ thoả đáng về mặt khoa học kỹ thuật gìn giữ tính nguyên gốc và
chân xác trong công tác trùng tu di tích. Để làm sáng tỏ hơn tầm
quan trọng của việc bảo tồn các giá trị nguyên gốc và bảo đảm
tính chân xác trong công tác trùng tu di tích, từ đó, sẽ nêu ra
được các nguyên tắc cơ bản nhất của di tích là :nbsp;:
1.
Giá trị lịch sử.
2.
Giá trị về mặt khoa học, hay còn gọi
là giá trị về mặt tri thức.
Ngoài hai giá trị cơ bản đã nêu trên, di tích còn có giá trị về
mặt mỹ thuật (thẩm mỹ) và giá trị hữu ích (giá trị về vật chất,
sử dụng, công năng), song, trong công tác bảo tồn và tu bổ di
tích, việc chú trọng đến hai giá trị lịch sử và khoa học luôn được
đặt ra hàng đầu.
Giá
trị lịch sử của di tích không những chỉ là những điểm mốc thời
gian về xây dựng công trình, lý do và mục đích xây dựng nó, mà
đó còn là bức chân dung phản ánh bối cảnh lịch sử, tình trạng
kinh tế và quan hệ xã hội, các tác động xuất phát từ quan điểm
chính trị của các tầng lớp xã hội - gắn liền với các nhân vật và
sự kiện cụ thể. Giá trị lịch sử cũng được phản ánh thông qua
việc thể hiện các tư tưởng, các trào lưu văn hoá nghệ thuật ...ở
từng thời kỳ khác nhau gắn liền với di tích.
Hiện
nay, hoạt động bảo tồn di tích ở một số nước còn được xem như
một hoạt động khoa học thuộc lĩnh vực bảo tồn lịch sử. Coi trọng
giá trị lịch sử của di tích chắc chắn sẽ không dẫn đến những
tình trạng như ở một số điểm di tích, sau khi tu bổ, từ chỗ là
một nơi rất thâm nghiêm u tịch mang tính tâm linh thờ phụng lại
có cảnh quan như một công viên hay vườn cảnh để du khách vui
chơi, thưởng ngoạn. Cũng có nơi vốn được xây dựng để đề cao giá
trị tri thức và sáng tạo nghệ thuật của con người thì lại gắn
thêm các hoạt động thương mại hoặc tổ chức trưng bày với những
chủ đề chưa thật phù hợp, có khi còn bộc lộ mâu thuẫn trong công
cuộc bảo tồn và phát huy di sản.
| |
 |
| |
Khảo cổ học di
tích Cung An Định |
Khi
thật sự tôn trọng giá trị lịch sử trong quá trình bảo tồn, các
di tích sẽ hấp dẫn người xem bởi những giá trị biểu cảm của thực
thể di tích và cách làm hồi sinh các giá trị văn hoá phi vật thể
tiềm ẩn trong đó. Một vấn đề khác cần phải được khẳng định là
giá trị lịch sử của di tích còn có cả bề dày của sự tồn tại của
di tích, đó là sự tiếp nối không đứt mạch của nhiều thế hệ vun
đắp cho di tích tồn tại và phát triển. Một số can thiệp vào di
tích mang tính lịch sử có thể được coi như là những giá trị
nguyên gốc và chân xác, ví dụ công trình được xây dựng thời Minh
Mạng (1820-1840), sau khi đại trùng tu thời Tự Đức (1847-1883)
hoặc ở thời Khải Định sau này,... đều chứa đựng các giá trị
nguyên gốc chân xác. Nhưng nếu sau năm 1945, khi triều Nguyễn đã
sụp đổ, thì các can thiệp sau đó vào di tích không còn mang tính
lịch sử mà chỉ có ý nghĩa về mốc thời gian chứa đựng thông tin
về thời điểm và quy mô tu sửa. Các can thiệp này khi lập dự án
và tiến hành tu bổ di tích sẽ được nghiên cứu, phân tích về tính
nguyên gốc và chân xác để quyết định bảo tồn hay phục chế. Từ đó
công tác bảo tồn và tu bổ phải có quan điểm lịch sử cụ thể, nhất
là trong việc phục hồi, tôn tạo hoặc bảo tồn thích nghi, tái sử
dụng di tích. Điều 11 trong Hiến chương Venice đã nêu rõ : «Tất
cả những giá trị của các thời đại trong di tích cần phải được
tôn trọng, do đó tính thống nhất của phong cách (unity of
style) không phải là mục đích của trùng tu » .
Giá
trị khoa học, hay còn gọi là giá trị về mặt tri thức của di
tích, bao hàm cả giá trị khoa học lịch sử, khiến di tích thường
được coi là nguồn tư liệu vật chất, hay còn gọi là nguồn « tư
liệu sống ». Di tích luôn chứa đựng nguồn thông tin, dữ liệu rất
đa dạng để luôn trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh
vực khoa học xã hội cũng như khoa học tự nhiên. Di tích không
chỉ là di sản văn hoá vật thể mà bản thân di tích còn hàm chứa
những giá trị thông tin rất đa dạng về văn hoá phi vật thể, vì
di tích ‘‘là sản phẩm tinh thấn có giá trị lịch sử và khoa
học...’’ được lưu giữ bằng tác phẩm kiến trúc, nghệ thuật, đặc
biệt là sản phẩm chứa đựng về bí quyết thủ công truyền thống, kỹ
thuật và công nghệ truyền thống, tri thức về thẩm mỹ và nghệ
thuật. Nhiều di tích kiến trúc còn chứa đựng cả một kho tàng các
tác phẩm văn hoá (như ở Ngọ Môn, điện Thái Hoà, điện Long
An,...). Bản thân các di tích là sản phẩm của các nghệ nhân lành
nghề xưa kia mà tên tuổi của họ đã đi vào lịch sử. Ngày nay, các
nghệ nhân của thế hệ mới đã tiếp thu rồi tiếp tục truyền nghề để
tiếp nối gìn giữ các giá trị văn hoá phi vật thể.
Giá
trị thẩm mỹ và giá trị hữu ích của di tích sẽ làm tăng thêm giá
trị toàn diện, nổi bật của một di tích. Nhu cầu thẩm mỹ là một
nhu cầu tất yếu của con người. Trùng tu di tích hướng đến việc
làm nổi bật các giá trị nguyên bản của công trình ở thời điểm
vàng son nhất cũng như quan tâm đến công tác trưng bày nội thất
và tôn tạo cảnh quan bao quanh. Giá trị thẩm mỹ cũng sẽ được
nâng cao hơn nếu có sự trợ giúp hợp lý của các thiết bị hiện đại
như hệ thống chiếu sáng mỹ thuật, tạo môi trường âm thanh khi
chiêm ngưỡng di tích và đặc biệt gắn liền hoạt động văn hoá -
nghệ thuật của con người với di tích. Các di tích ngày nay không
chỉ đáp ứng nhu cầu về đời sống văn hoá và tinh thần của người
dân mà còn thực sự góp phần vào việc thúc đẩy kinh tế du lịch
phát triển. Trùng tu di tích luôn đặt ra mục tiêu là tăng thêm
tính hữu ích và tính kinh tế của di tích. Các khái niệm về ‘‘di
tích sống’’ và ‘‘ di tích chết’’ đã được các nhà khoa học và kỹ
thuật trùng tu di tích trên thế giới nêu ra từ đầu thế kỷ XX còn
luôn mang tính hiện thực cho đến hôm nay. Từ quan niệm đó, ngày
nay hầu hết các khu di tích đều gắn liền với việc phát triển các
lễ hội (Festival), phát triển công nghệ hàng lưu niệm đặc trưng.
Việc liên kết giữa các khu di tích được tăng cường nhằm nâng cao
thêm tiềm năng của mỗi khu di tích, tạo sự phát triển chung và
hội nhập quốc tế.
Những
phân tích về các giá trị cơ bản của di tích trên đây, đặc biệt
là giá trị lịch sử và khoa học, cho thấy việc bảo tồn, trùng tu
nhằm gìn giữ tính nguyên gốc và chân xác của di tích là một tiêu
chuẩn cực kỳ quan trọng trong khoa học bảo tồn nói chung và
trùng tu di tích nói riêng. Để đạt được tiêu chuẩn này, vấn đề
sử dụng vật liệu và công cụ truyền thống trong trùng tu di tích
có thể được xem là một nguyên tắc khoa học cơ bản để đánh giá
kết quả tu bổ. Di tích như là bản thông điệp của quá khứ (a
message from the past - Hiến chương Venice 1964) mà nhiệm vụ
của chúng ta là phải bảo tồn và chuyển giao cho các thế hệ mai
sau với đầy đủ tính chân xác của nó. Di tích là di sản vật chất
hữu hình, là sản phẩm của sự tổ hợp và chế tác các thành phần
vật liệu trên cơ sở các tri thức về kỹ thuật và công nghệ truyền
thống, được thực hiện bởi các kỹ năng sử dụng công cụ truyền
thống. Từ đó, di tích sẽ bộc lộ rõ các giá trị mỹ thuật và mục
đích xây dựng công trình, khoa học bảo tồn ngày nay gọi đó là
« chất di tích ».
Trùng tu di tích, thay thế, phục chế các thành phần di tích bị
hư hại, phục hồi các yếu tố bị mất,... cần thiết phải được tư
duy và thực hiện theo cách làm của người xưa, tức là những người
đã xây dựng nên công trình trong quá khứ. Các cấu trúc phục chế
luôn luôn phải được làm từ vật liệu như vật liệu của cấu trúc
nguyên gốc (kể cả vôi vữa, sơn thếp,...). Kết quả tu bổ sẽ đạt
được là thực hiện được mục đích duy trì « chất di tích ». Để làm
sáng tỏ quan niệm này cần thiết nêu lên một số ví dụ cụ thể: khi
phục chế để thay thế một chiếc cột bị hư hỏng, người thợ sẽ lấy
mực trên một cây gỗ mới theo phương pháp truyền thống, hình hài
của cây cột phục chế được xác định qua tri thức của người thợ -
ví như một nghệ sĩ điêu khắc xác định hình thể của một bức tượng
trong những tỉ lệ và sự cân đối mà không thể có những số đo cụ
thể nào nói lên hết được. Sau đó, bằng các công cụ truyền thống,
dấu ấn kỹ năng và tri thức về kỹ thuật và thẩm mỹ của người thợ
sẽ còn đọng lại trên bề mặt cũng như ở các chi tiết mộng của
chiếc cột phục chế (khác xa với việc gia công bằng máy móc). Với
cách làm như vậy, chiếc cột phục chế đã có « chất di tích ». Ở
Nhật Bản hiện nay, khi phục chế các cấu trúc bằng gỗ, người ta
đã chụp ảnh bề mặt cấu trúc này, rồi phóng to lên để phân tích
về công cụ và cách thức gia công của người thợ. Sau đó, đưa ra
các chỉ dẫn phục chế với việc sử dụng các công cụ được xác định.
Sau khi trùng tu, các công cụ này được lưu giữ lại và trưng bày
như một nhóm hiện vật của di tích.
 |
|
|
Phục chế khảm
sứ |
|
Trong những năm qua, kết quả điều tra và khảo sát của nhóm cán bộ
Phòng kỹ thuật, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế về dụng cụ mộc
truyền thống ở Thừa Thiên Huế, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc
Giang và Long An đã cho thấy dụng cụ mộc truyền thống của chúng
ta rất đa dạng, với các phương pháp sử dụng rất phong phú, mà
không thể có máy móc hiện đại nào thay thế được. Riêng về dụng cụ
bào, đã có đến 29 loại, dụng cụ đục chạm có 43 loại, các dụng cụ
cưa, khoan, dụng cụ đo, lấy mực, các loại rìu, búa, vồ, dùi cui,...có
đến hàng trăm loại khác nhau. Nhờ đó, các loại hình di tích bằng
gỗ của chúng ta rất đa dạng và phong phú. Để bảo tồn tính chân
xác thì việc sử dụng các công cụ truyền thống này trong quá
trình trùng tu phải được coi như là một điều kiện bắt buộc đối với
các tổ chức, đơn vị thi công trùng tu di tích. Hiện nay, do việc
quản lý trùng tu di tích đang được thực hiện hầu như theo hệ thống
quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, các định mức, đơn giá, qui phạm
và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng công trình chưa thể hiện được
tính chất đặc thù của công tác trùng tu di tích. Từ đó, việc sử
dụng các vật liệu không mang tính truyền thống còn khá phổ biến.
Đồng thời, việc đưa các công cụ, máy móc, đặc biệt là máy móc về
đồ gỗ, để phục vụ thi công mang tính đồng loạt (như phục chế rui,
đòn tay, trần gỗ, ván sàn,...) đã góp phần làm giảm đi tính chân
xác trong trùng tu di tích.
Đây
là vấn đề cần sớm được quan tâm giải quyết, mà trước hết, cần
đặt ra một hệ thống quy trình chuẩn mực về trùng tu di tích,
trong đó các tiêu chuẩn về vật liệu, phương pháp thi công và
tiêu chuẩn đánh giá sản phẩm trùng tu phải được xác định trên cơ
sở các tiêu chí khoa học, kỹ thuật. Có như vậy, công tác bảo tồn
và trùng tu di tích mới vươn tới các chuẩn mực quốc tế và bảo
đảm về ý nghĩa bảo tồn tính chân xác trong trùng tu di tích./
|