 |
|
|
Y
phục cung đình |
|
Trải qua các
giai đoạn của lịch sử với tư cách là kinh đô của Việt Nam thế kỷ
XIX nửa đầu thế kỷ XX, Huế là điểm hội tụ tinh hoa của dân tộc,
đồng thời cũng là nơi gặp gỡ giao lưu của các luồng văn minh
nhân loại. Với sự tồn tại hàng trăm công trình kiến trúc, hàng
chục ngàn hiện vật, hàng ngàn bài thơ chạm khắc trên di tích kết
hợp với di sản văn hóa phi vật chất đã làm cho Huế trở thành một
thành phố bảo tàng, một kho tư liệu lịch sử sống động. Đây là
một bộ phận quan trọng hợp thành di sản văn hóa dân tộc.
Trong hệ thống
cổ vật đang trưng bày và bảo quản tại Bảo tàng Huế, đồ dệt có vị
trí hết sức quan trọng, nó không chỉ mang tính thuyết phục trong
trưng bày mà còn là cứ liệu lịch sử đáng tin cậy trong nghiên
cứu khoa học. Ngoài giá trị lịch sử, mỹ thuật, sưu tập đồ dệt
là những bằng chứng đích thực góp phần minh họa sinh hoạt văn
hóa đã xảy ra thời vương triều Nguyễn và vùng văn hóa Huế.
Ở Việt Nam, nghề
dệt ra đời rất sớm. Theo các tư liệu để lại, nghề dệt được hình
thành vào thời Hùng Vương và sau đó qua các triều đại tiếp tục
phát triển.
Thời Lý, dưới
triều Lý Huệ Tông (1210 - 1224) nghề dệt được phát triển tại các
địa phương miền Bắc, trong đó công chúa Thụ La là người nổi
tiếng về dệt vải được nhà vua mời vào cung để dạy cho các cung
nữ và công chúa.
Thời Trần dưới
triều Trần Anh Tông (1293 - 1314), bà Mỵ Châu là người đã có
công qui tụ nhân dân lập vùng trồng bông, chăn tằm ở Yên Định -
Thanh Hóa. Sau khi bà mất được lập đền thờ tại đây.
Thời Lê, dưới
triều vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) bà Quỳnh Hoa công chúa là
người đã mở rộng nghề trồng dâu nuôi tằm, được dân suy tôn là bà
Chúa Tằm và tôn là Thành Hoàng ở vùng dệt Nghi Tàm - Hà Nội.
 |
|
Mệnh phụ Hoàng
Thái Hậu |
Thời Nguyễn, các
nghề dệt lụa, tằm tơ, nghề thêu...được mở rộng và phát triển tại
các địa phương. Vào thời vua Minh Mạng (1820 - 1840), ông Trần
Quý là người đã sử dụng những vật liệu ở vùng La Khê để dệt
thành gấm, sản phẩm này được sử dụng nhiều trong các trang phục
tại triều đình. Với chính sách phát triển các ngành kinh tế,
nghề dệt đã được các vua đầu triều Nguyễn như Gia Long, Minh
Mạng, Thiệu Trị đã ra các sắc chỉ lập các phường, cục để sản
xuất chuyên ngành về tơ lụa, trồng dâu nuôi tằm. Sách Đại Nam
Hội Điển Sự Lệ đã ghi rất rõ các địa phương có nghề này.
Dệt lụa: có Gia
Định, Định Tường, An Giang, Khánh Hòa.
Dệt
sa Nam: có vùng dệt La Khê - Từ Liêm, Hà
Nội.
Dệt sa nhỏ sợi:
phát triển ở các xã thuộc huyện Thanh Hóa, Hà Tây.
Dệt vải: Hà Nội
có 9 xã thôn,Nam Định có 8 xã thôn, Sơn Tây có 26 xã thôn, Bắc
Ninh có 26 xã thôn. Ngoài ra còn có nhiều làng xã thuộc các tỉnh
Bình Thuận,Vĩnh Long, Quảng Nam, Thừa Thiên,Thanh Hóa, Hải
Dương...
Các địa phương
trên đã sản xuất phục vụ việc buôn bán và hàng năm cung cấp hàng
chục nghìn tấm vải, sa các loại để chế tác y phục và đồ dùng cho
Hoàng gia.
Từ các vật liệu
trên nhà vua đã cho tuyển mộ những người thợ giỏi vào triều đình
để may theo các quy cách mà nhà vua và bộ lễ quy định.
Thời vua Gia
Long thứ 3 và 13, vua xuống chỉ tuyển mộ lính vào trong Thự vệ
may để phục vụ triều đình.
Thời vua Minh
Mạng năm thứ 6 (1825) và năm thứ 20 (1839) lấy lính vào may, sai
các thợ trang trí hội họa vẽ trên vải để thêu và tuyển thợ nhuộm
vải.
| |
 |
|
Đãy trầu thuốc của các bà phi
trong hoàng cung |
Bên cạnh các sản
phẩm được chế tác trong nước, cuối thế kỷ XIX do có sự giao lưu
buôn bán với các nước nên có một số đồ dệt , nguyên liệu được
nhập vào Việt Nam phục vụ các sinh hoạt của triều đình.
1- Đặc điểm và
hình thức thể hiện:
Nguyên liệu
chính dùng chế tác y phục bao gồm tơ lụa, gấm sa, kim tuyến,
khuy (đồng, bạc, vàng, hổ phách, mã não...) các loại chỉ thêu,
chỉ may.
Các nguyên liệu
trên được chế tác tùy theo mục đích đồ dùng và tính chất công
việc. Các loại y phục thường được cắt may theo khổ vải đã dệt và
để trơn sau đó may thành sản phẩm. Riêng đối với các y phục mặc
đại triều... được chế tác tỉ mỉ, công phu hơn, sau khi may còn
dệt các mẫu hình với nhiều lớp, nhiều màu khác nhau và đính các
dãi kim tuyến, các hạt kim loại dát mỏng và hệ thống khuy bằng
kim loại đồng, vàng, bạc.
2- Phân loại đã
dệt:
Tùy theo tính
chất và yêu cầu, nhà vua giao cho bộ lễ xem xét, xác minh và
trình nhà vua phê chuẩn các quy định về trang phục và nội dung
cuộc lễ; có thể phân chia đồ dệt thành các loại sau:
- Đồ nghi
trượng: các loại cờ, phan, sắc phong,chúc văn, khám tướng, tàn,
lọng, quạt, phủ phất, tọa nhơn...
- Đồ tế tự:
dùng cúng tế trong các miếu
thờ tại Đại Nội, Nam Giao, Văn Miếu, Võ Miếu, Xã Tắc... bao gồm
lụa dùng trong Tế Giao, lụa về lễ thờ tổ tiên và
lụa về lễ tế thần.
- Đồ ngự dụng:
các loại y phục như áo, quần, xiêm y, đai, đệm quỳ, mũ mão, tất
hài; các đồ dùng như khăn, gối, chăn...
- Đồ ban thưởng:
dùng để tặng cho những thân công, hoàng thân, hoàng tử, quan
lại, các cung phi mỹ nữ, người phục vụ và những người có công.
Ngoài ra, còn có
nhiều loại đồ dùng sinh hoạt của các quan văn võ, binh lính, ban
nhạc và nhân dân.
Trong sưu tập y
phục có thể phân loại theo những sưu tập nhỏ hơn như y phục của
vua, hoàng hậu, hoàng thái
tử, hoàng thân, công chúa, các tôn tước, quan lại, quân lính, cử
nhân, giám sinh, tôn sinh...Riêng sưu tập của vua lại có những
bộ nhỏ như y phục Đại triều, Thường triều, Tế Nam
Giao, Cày ruộng Tịch điền, sinh hoạt...
 |
|
|
Đôi hài
của vua Bảo Đại |
|
3-
Tính chất trang
trí:
Hầu hết
các y phục trên nền vải đều dệt và thêu các hoa văn với nhiều ý
nghĩa tượng trưng khác nhau, trong đó
trang trí phổ biến là:
1. Long (con
rồng): độc tôn của
nhà vua, tượng trưng cho vương quyền. Trong trang trí, nó có thể
biểu hiện nguyên con hoặc có lúc cách điệu như như rồng hóa mây,
rồng ổ, cửu long...
2. Lân (kỳ lân):
con vật biểu tượng cho sự tôn trọng với tư cách giám sát sự
trung thành của các quan lại đối với nhà vua.
3.
Quy (con rùa): biểu tượng của sự trường tồn và bền vững.
4. Phụng (phượng hoàng): tượng trưng cho sự giàu đẹp, thịnh vượng. Nó
thường gắn với nữ giới.
5. Bát bửu: là
những đồ qúy tượng trưng cho nhiều ý nghĩa khác nhau như hạnh
phúc, giàu có, sức khỏe...hoặc sự cầu mong mọi sự tốt đẹp.
Nhìn trên phương diện mỹ thuật, mỗi một bộ trang phục của các
bậc đế hậu thời Nguyễn chính là một tác phẩm nghệ thuật. Đó là
sự kết hợp của nghệ thuật may thêu, hội họa với nghề kim hoàn.
Phong cách trang trí mang một nét thuần Nguyễn từ các họa tiết
rồng mây đến hồi văn thủy ba, chữ thọ... Những mô típ ấy đã xuất
hiện rất nhiều trong trang trí cung đình Huế trên các chất liệu
gỗ, đồng, vôi vữa, gốm sứ...cũng như việc trang trí trên các
chất liệu khác, trang trí trên vải cũng có sự biến chuyển
qua từng thời đại và mỗi giai đoạn lịch sử đã để lại những dấu
ấn khó phai mờ trên các tác phẩm ấy. Trên ý nghĩa đó, trang phục
của vua chúa nhà Nguyễn hiện tồn không chỉ đơn thuần là những bộ
quần áo quý báu, những cổ vật vô giá mà còn là những tác phẩm
nghệ thuật, những sử liệu bất thành văn rất cần thiết cho việc
nghiên cứu lịch sử, văn hóa thời Nguyễn trên đất Huế.
|