|
Có một câu
hỏi mà nhiều người thắc mắc khi ghé thăm hoàng cung Huế “Vua
chúa ngày xưa ăn mặc như thế nào? “. Trong bài viết của một
học giả người Pháp đăng trên B.A.V.H (tập san của hội Đô
thành hiếu cổ) có miêu tả vua Khải Định “bên trong mặt
complet, bên ngoài khoác áo hoàng bào, ngực bên trái đeo long
bội tinh (mề-đay do Pháp tặng thưởng), bên phải đeo bài ngà,
chân đi ủng, đầu đội nón...” khiến
người ta càng thêm băn khoăn về lối phục trang của các bậc đế
hậu thời Nguyễn. Bởi lẽ, đây là lối phục trang cao cấp, hàm chứa
nhiều vấn đề lịch sử, văn hóa và mỹ thuật.
 |
|
|
Sa kép Hoàng
Thái Hậu |
|
Chất liệu các loại vải dùng để may áo mũ cho vua chúa, hoàng
thân quốc thích đều là cao cấp. Triều đình thường đặt mua ở
Trung Hoa hay các hộ dệt lụa vải riêng biệt cho cung đình các
loại gấm vóc, sa nam, nhiễu lụa... Nhiều làng nghề truyền thống
ở Việt Nam cũng tiến nộp các mặt hàng dệt chất lượng cao thay
cho tiền thuế. Các loại vải thường dùng để may áo mũ cho đế hậu
là: sa (để may áo bào), đoạn (may thường
phục), tơ (để trang trí may bít tất), lụa (may áo thường triều,
khăn choàng),...Trên áo mão thường đính vàng bạc, trân châu, kim cương... để
tăng thêm giá trị và uy nghi. Hội điển cho hay trên chiếc mũ vua
đội lúc thiết đại triều có đính 31 hình rồng bằng vàng tốt; 30
đóa hoa vuông có khảm ngọc, kim cương và trân châu đính kèm lên
đến 140 hạt. Mũ của hoàng hậu có 9 con rồng, 9 con phượng bằng
vàng tốt. 9 miếng bồn khoan bằng bạc, 4 cái ống trâm bằng bạc có
gắn 198 hạt trân châu và 231 hạt pha lê. Khăn bịt trán thì làm
bằng đoạn có đính 8 sợi tơ màu thiên thanh, trong lót lĩnh đại
tào màu vàng, trang sức 4 cái khuyên vàng tốt và 4 sợi dây tơ.
Tất cả áo mũ, xiêm y, hài ủng của vua hậu cho đến phi tần, cung
giai, tùy theo thứ bậc mà đính vàng bạc, trân châu nhiều hay ít
nhưng cái nào cũng có.
| |
.jpg) |
|
Đôi hia (Khải
Định) |
Về đề tài
trang trí, sự phân chia thứ bậc theo chủ đề được tuân thủ nghiêm
ngặt. Áo vua trang trí rồng, áo hoàng tử trang trí lân, áo hoàng
hậu công chúa thêu hoa và chim phụng. Mũ đại triều của vua có 9
rồng hướng thiên bằng vàng; mũ hoàng hậu có 9 con rồng, 9 con
phượng, mũ hoàng thái hậu chỉ thêu 9 con phượng, mũ của cung
giai thì tùy theo thứ bậc mà có từ 1 chim phượng đến 7 chim
phượng...Cũng là đề tài rồng nhưng rồng trên áo vua thì có 5
móng, rồng trên áo thái tử cũng có 5 móng nhưng chỉ là rồng mặt
nạ, không được trang trí phi long hay hồi long chầu nhật,
trong khi đó rồng trên áo thái tử lại chỉ có 4 móng. Và
nếu trên áo vua, hậu trang trí những con rồngvới dáng vẻ uy nghi,
đường bệ thì trên áo mũ của hoàng thân, tôn tước chỉ là những
con mãng, con giao (hóa thân ở thứ bậc thấp hơn của rồng). Trên
áo mão của Hoàng thái hậu và Hoàng hậu trang trí đồ án hoa đoàn
phượng (là bông hoa tròn trong có hình hai con phượng), với
những nét vẽ, đường thêu rất sống động, công phu thì phượng
hoàng trên áo của cung giai chỉ là những hình ảnh giản lược,
cách điệu và số đồ trân bảo đính kèm cũng ít hơn. Chỉ có trên áo
vua, hậu người ta mới trang trí thêm các hoa văn tứ thời, bát
bửu, còn trên áo mão của vương tôn và cung giai, bát bửư được
thay thế bằng những cổ đồ.Ngay cả chữ Hán trang trí trên áo mão
cũng có sự phân biệt. Áo vua thường trang trí nổi các chữ Phúc,
Lộc, Thọ đại tự theo lối chân hoặc triện, trong khi đó các chữ
Phúc , Lộc, Thọ trên áo phụ nữ thường nhỏ hơn và dệt chìm trên
mặt vải, không nạm trân châu hay thêu kim tuyến như trên áo mũ
của vua. Qui định nghiêm ngặt là vậy nhưng đôi lúc cũng có những
phá lệ rất thú vị. Chiếc áo thiết thường triều của vua Khải Định
hiện lưu giữ ở BTMTCĐH ngoài hoa văn rồng mây, thủy ba như thông
lệ còn điểm xuyết 18 đóa hồng nhưng thêu kim tuyến và chỉ bóng
cùng hai bông cúc đại đóa ở trước ngực và sau lưng. Trên một áo
khác của vua còn có hình chim phượng đối mặt với rồng trong vầng
mây hình cầu. Khải Định là con người màu mè, chuộng sự mới
lạ, kỳ dị nên không chỉ trong trang phục mà cả trong cung
điện, lăng tẩm của vua, cái cá tính độc đáo đó của nhà vua cũng
ló dạng ở nhiều nơi mà Thiên Định Cung là một ví dụ cụ thể.
 |
|
|
Tế phục của vua Minh Mạng (trong lễ
Tế Nam Giao) |
|
Trang phục
của các bậc vua chúa nhà Nguyễn cũng có nhiều loại và mỗi loại
lại có tên gọi riêng, màu sắc riêng và chỉ mặc trong những dịp
cụ thể. Các thứ ấy có thể phân thành các nhóm: trang phục thiết
đại triều, trang phục thiết thường triều, trang phục nghi lễ
và thường phục. Mỗi nhóm bao gồm: áo, mũ, đai, quần, hốt, giày
ủng, hia hài...được may theo cách thức riêng, có tên gọi
riêng và có màu sắc hoa văn khác nhau. Mũ thiết đại triều của
vua gọi là mũ cửu long, áo gọi là long bào, trang trí rồng
mặt nạ, đi kèm với nó là ủng thêu đôi rồng bằng kim tuyến có nạm
vàng. Mũ thiết thường triều của vua gọi là mũ bình thiên, áo
gọi là hoàng bào, thêu viên long nạm trân châu, tơ vàng,
đi kèm với nó là đôi hài thêu rất cầu kỳ. Mũ dùng trong dịp vua
tế Nam Giao là miện, áo gọi là cổn, màu đen, tay thụng thật lớn,
thêu lưỡng long triều nhật dọc hai thân trước. Áo vua mặc đi
cày ruộng thêu rồng nhỏ trong các cụm mây, màu gạch non, gọi
là hồng bào. Trong khi đó, mũ của thái tử, tuy rất giống mũ bình
thiên của vua nhưng lại gọi tên là mũ bình đính. Tên gọi này do
vua Minh Mạng đặt ra trong một đạo dụ vào năm 1832 với một lý
do: Hai chữ bình thiên không phải là tôi con đáng có, rất
thấy chưa nhã, nay cho tên là mũ bình đính.
| |
 |
|
Y
phục cung đình |
Nhìn trên
phương diện mỹ thuật, mỗi một bộ trang phục của các bậc đế hậu
thời Nguyễn chính là một tác phẩm nghệ thuật. Đó là sự kết hợp
của nghệ thuật may thêu, hội
họa với nghề kim hoàn. Phong cách trang trí mang một nét thuần
Nguyễn từ các họa tiết rồng mây đến hồi văn thủy ba, chữ thọ...
Những mô típ ấy đã xuất hiện rất nhiều trong trang trí cung đình
Huế trên các chất liệu gỗ, đồng, vôi vữa, gốm sứ...cũng như việc
trang trí trên các chất liệu khác, trang trí trên vải cũng
có sự biến chuyển qua từng thời đại và mỗi giai đoạn lịch sử đã
để lại những dấu ấn khó phai mờ trên các
tác phẩm ấy. Trên ý nghĩa đó, trang phục của vua chúa
nhà Nguyễn hiện tồn không chỉ dơn thuần là những bộ quần áo quý
báu, những cổ vật vô giá mà còn là những tác phẩm nghệ thuật,
những sử liệu bất thành văn rất cần thiết cho
việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa thời Nguyễn trên đất Huế.
|