Trấn Hải Thành (Thành trấn giữ mặt biển) nằm ở vị trí gần cửa biển Thuận An cũ. Trận bão năm 1904 đã đổi dời cửa biển, lấp cửa cũ, mở cửa mới chỉ cách đó chừng 3km về phía Đông. Nhân dân gọi cửa Thuận An cũ là cửa Lấp (hoặc cửa Eo). Đây là một vị trí có tính chiến lược không chỉ đối với việc an nguy của Kinh Thành Huế - đầu não của bộ máy trung ương tập quyền dưới thời các vua Nguyễn, mà còn là vị trí quân sự được xem là “bất khả xâm phạm” của lực lượng viễn chinh Pháp, Mỹ tại miền duyên hải Thừa Thiên sau này.
Có thể nói, vua Gia Long khi chọn Huế làm kinh đô đã tính trước mọi lợi thế phòng thủ ở đây: mặt Bắc có Quảng Bình Quan, mặt Nam có Hải Vân Quan trấn giữ. Phía Tây là dãy núi Trường Sơn trùng điệp vươn tay che chở. Còn mặt Đông, cửa biển Thuận An chỉ cách Kinh Thành Huế chừng 13km - là nơi “yết hầu” của Kinh Thành, nhất thiết phải có một đồn quan ải để trấn giữ giặc cướp từ biển tràn vào. Trấn Hải Thành ban đầu có tên là Trấn Hải Đài, được khởi công xây dựng vào năm 1813. Đến năm 1834, dưới triều vua Minh Mạng, công trình được đổi tên là Trấn Hải Thành.
Thành gồm hai lớp, vây quanh một khu vực hình tròn chu vi 285m, chỉ có một cửa nhìn ra bờ sông phía trước mặt. Trên bờ thành có đắp 44 ụ súng. Ngoài thành có hệ thống hào sâu 2,4m, rộng 4m, với hàng ngàn cây dừa được trồng để chống sụt lở đất. Bên trong thành có đặt Quan Hải Lâu với những ống kính thiên lý phục vụ cho việc quan sát, canh phòng mặt biển từ xa, theo dõi tàu thuyền qua lại ngoài khơi và ra vào cửa khẩu. Năm 1840, theo lệnh vua Minh Mạng, lầu Quan Hải có thêm một chức năng là ngọn hải đăng cho tàu thuyền qua lại vùng biển nơi này, với một chiếc đèn lồng đường kính khoảng 3m treo trên cao.
Trong suốt 4 đời vua đầu triều Nguyễn (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức), liên tục có những đợt tu sửa với quy mô lớn nhỏ khác nhau ở Trấn Hải Thành như xây kè, đóng cọc, đổ đá, gia cố móng, trồng thêm dừa chắn sóng và chống xói lở...Với tất cả những cố gắng trên, các vua nhà Nguyễn tin tưởng vững chắc vào thành Trấn Hải - nơi trấn giữ trọng yếu mặt biển, bảo vệ cho Kinh Thành. Họ gọi đó là “Kim thành thang trì “ (Thành bằng đồng, hào chứa nước sôi).
Nhưng với trình độ kỹ thuật quân sự kém, cộng với chính sách đối ngoại sai lầm thì dù cho thành cao hào sâu, binh nhiều tướng giỏi đến mấy, thành Trấn Hải cũng bị thất thủ dưới sức mạnh vũ khí và chiến thuật của quân Pháp đúng vào năm 1883 - năm vua Tự Đức băng hà. Trong số hàng ngàn binh sĩ tử nạn trận này có nhiều quan lại, tướng lĩnh cũng vì nước hy sinh như Trần Thúc Nhẫn, Nguyễn Trung, Lê Chuẩn, Lâm Hoành...
71 năm sau, ngày 28-7-1954, quân và dân cửa Thuận đã “xuất kỳ bất ý” đánh úp đồn giặc ở thành Trấn Hải, bắn chết 9 sỹ quan cùng nhiều binh lính, bắt sống 70 tên, giải phóng cho hàng trăm cán bộ và nhân dân đang bị Pháp giam giữ tại đây, rửa được mối hận của cha ông hơn nửa thế kỷ trước.
Như vậy, Thuận An không những là một thắng cảnh được liệt vào hạng thứ 10 trong số 20 cảnh đẹp đất Thần Kinh, được vua Thiệu Trị làm thơ ca ngợi với bài thơ “Thuận Hải qui phàm” (thuyền về cửa biển), mà còn là nơi chứng kiến những trang sử bi tráng của nhân dân Thừa Thiên Huế. Trấn Hải Thành cho đến nay, bên cạnh những giá trị lịch sử của nó, vẫn còn nguyên vẹn tầm quan trọng về mặt quân sự, giữ vai trò trọng yếu trong hệ thống phòng thủ bờ biển của miền Trung.