Trang chủ | Tìm kiếm | Góp ý | Sơ đồ web | Tra cứu
 

 

HIẾN CHƯƠNG BURRA

 

 

Hiến chương của ICOMOS Australia về bảo vệ các địa điểm di sản có giá trị văn hoá

(1979, sửa đổi 1981, 1988, 1999)

Lời nói đầu

Hiến chương Burra được ICOMOS Australia, là Uỷ ban quốc gia Australia thuộc Hội đồng quốc tế các di tích và di chỉ (ICOMOS), thông qua ngày 19-8-1979 tại Burra ở Nam Australia. Hiến chương này được xây dựng trên cơ sở Hiến chương quốc tế về bảo vệ và trùng tu di tích và di chỉ Hiến chương Venice (1964) và Quyết nghị của Đại hội đồng ICOMOS lần thứ 5 họp ở Matxcơva năm 1978. Đã có những sửa đổi được thông qua vào các ngày 23-2-1981, 23-4-1988 và 26-1 1-1999).

Hiến chương Burra đưa ra các đường lối chỉ đạo cho việc bảo vệ và quản lý các địa điểm di sản có giá trị văn hoá dựa trên sự hiểu biết và kinh nghiệm của các thành viên ICOMOS Australia.

Việc bảo vệ là một bộ phận hữu cơ của công tác quản lý các địa điểm có giá trị văn hoá, và là một trách nhiệm thường hằng.

Hiến chương dùng cho ai?

Hiến chương xác lập một hệ thống chuẩn mực dành cho bất kỳ ai làm tư vấn, ra quyết định, hoặc tiến hành những công trình trên các địa điểm di sản có giá trị văn hoá, bao gồm các chủ sở hữu, các nhà quản lý và người trông coi các địa điểm di sản đó.

Cách sử dụng Hiến chương

Hiến chương cần phải được đọc trọn vẹn. Nhiều điều khoản là lệ thuộc lẫn nhau. Các điều khoản trong phần Nguyên tắc Bảo vệ thường được phát triển trong các phần Tiến trình Bảo vệ và Thực hành Bảo vệ ở phía sau. Các biểu mục đưa vào là để cho dễ đọc chứ không phải là những phần hợp thành của Hiến chương.

Hiến chương là một văn kiện độc lập, song về một số cách sử dụng và áp dụng sẽ được giải thích rõ ràng hơn trong các văn kiện sau đây của ICOMOS Australia:

·        Đường lối chỉ đạo của Hiến chương Burra: Ý nghĩa văn hoá;

·        Đường lối chỉ đạo của Hiến chương Burra: Chính sách bảo vệ;

·        Đường lối chỉ đạo của Hiến chương Burra: Thủ tục tiến hành nghiên cứu và báo cáo;

·        Quy tắc về đạo lý song song tồn tại trong công cuộc bảo vệ các địa điểm có ý nghĩa.

Hiến chương áp dụng vào những địa điểm nào?

Hiến chương có thể được áp dụng vào mọi địa điểm có ý nghĩa văn hoá bao gồm các địa điểm thiên nhiên, địa phương, lịch sử có giá trị văn hoá.

Những chuẩn mực do các tổ chức khác dựng lập cũng được coi là xác đáng. Đó là Hiến chương về Di sản Thiên nhiên Australia và Dự thảo Nguyên tắc chỉ đạo việc Bảo vệ, Quản lý và Sử dụng các địa điểm di sản văn hoá của người Aboriginal (người bản địa Australia) và người Hải đảo ở Eo Tortes.

Tại sao lại cần bảo vệ?

Các địa điểm có ý nghĩa văn hoá làm phong phú cuộc sống con người, đem lại cho họ một mối quan hệ sâu sắc đầy cảm hứng với cộng đồng và cảnh quan, với quá khứ và những trải nghiệm đã qua. Đó là những nơi lưu trữ lịch sử, quan trọng vì đó là những biểu thị hữu hình của bản sắc, tri thức, tài năng Australia. Các địa điểm có ý nghĩa văn hoá phản ánh tính đa dạng của các cộng đồng chúng ta, nói cho chúng ta biết ta là ai, về thời quá khứ đã sinh thành chúng ta và tạo tác lên cảnh quan Australia. Những địa điểm đó là không gì thay thế được và quý báu vô cùng.

Các địa điểm có ý nghĩa văn hoá cần phải được bảo vệ vì lợi ích của thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau.

Hiến chương Burra chủ trương một cách xử lý thận trọng sự thay đổi: làm mọi việc cần thiết để trông nom được tốt địa điểm và làm cho nó hữu dụng, song mặt khác càng ít thay đổi càng tốt để cho địa điểm giữ được tối đa giá trị văn hoá của nó.


 

Điều khoản

Điều 1. Định nghĩa

Cần dùng cho Hiến chương này:

1.1. Địa điểm (Place) bao gồm di chỉ (site), vùng đất (area, land), cảnh quan (landscape), công trình xây dựng và công trình khác (building and other work), nhóm công trình xây dựng và các công trình khác, và có thể bao gồm cả các phần hợp thành, nội dung, không gian và cả thị giới của địa điểm.

1.2. Ý nghĩa văn hoá (Cultural significance) có nghĩa là các giá trị thẩm mỹ, lịch sử, khoa học, xã hội hoặc tinh thần đối với các thế hệ quá khứ, hiện tại và tương lai.

Ý nghĩa văn hoá hiện thân ngay chính trong địa điểm, qua kết cấu, khung cảnh, cách sử dụng, các mối kết hợp, ý nghĩa, tư liệu và các nơi, các vật có liên quan.

Địa điểm có thể có một loạt các giá trị khác nhau tuỳ theo cá nhân và nhóm người.

Chú giải

Của ICOMOS Australia, không nằm trong nội dung Hiến chương

Khái niệm địa điểm (place) có thể hiểu rộng ra. Những khái niệm mô tả trong Điều 1.1 có thể bao gồm cả đài tưởng niệm, cây cối, vườn, công viên, những nơi gắn với các sự kiện lịch sử, khu đô thị, thành phố, địa điểm công nghiệp, di chỉ khảo cổ học và các nơi linh thiêng hoặc tôn giáo.

Thuật ngữ ý nghĩa văn hoá đồng nghĩa với ý nghĩa di sản và giá trị di sản văn hoá.

Ý nghĩa văn hoá có thể biến đổi do dòng lịch sử của địa điểm.

Sự hiểu biết ý nghĩa văn hoá có thể biến đổi theo những thông tin mới thu nhận được.

1.3. Cấu trúc (fabric) có nghĩa là mọi bộ phận hữu thể của địa điểm, bao gồm các phần hợp thành, các bộ phận cố định, nội dung và các đồ vật của cấu trúc.

1.4. Bảo toàn (conservation) có nghĩa là tất cả mọi quy trình có thể sử dụng để trông coi địa điểm nhằm lưu giữ ý nghĩa văn hoá của nó.

1.5. Bảo quản (maintenance) có nghĩa là chăm nom bảo vệ thường xuyên kết cấu khung cảnh một địa điểm, và cần phải phân biệt với sửa sang. Sửa sang bao hàm trùng tu hoặc phục dựng.

1.6. Bảo tồn (preservation) có nghĩa là bảo quản kết cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm sự xuống cấp của kết cấu đó.

1.7. Trùng tu (restoration) có nghĩa là đưa kết cấu đang tồn tại của một địa điểm trở lại tình trạng đã biết trước kia bằng cách loại bỏ những phần thêm thắt hoặc ghép lại những thành phần hiện còn mà bị rơi ra hoặc đặt sai chỗ mà không đưa vật liệu mới vào.

1.8. Phục dựng (tu tạo lại, tái dựng) (reconstruction) có nghĩa là đưa một địa điểm trở lại tình trạng đã biết trước kia bằng cách đưa vật liệu mới vào kết cấu, để phân biệt với trùng tu (restoration)

Cấu trúc bao gồm các trang trí nội thất của một đơn vị kiến trúc và những vết tích dưới mặt đất, cũng như các đồ vật thu được trong các cuộc khai quật.

Cấu trúc có thể xác định được các khoảng không gian, mà không gian có thể là những yếu tố quan trọng trong ý nghĩa của địa điểm.

Những phân biệt này, chẳng hạn như đối với ống máng, có thể diễn đạt như sau:

·     bảo quản - kiểm tra đều đặn và thông ống máng.

·     sửa sang bao hàm trùng tu - dựng lại đúng chỗ các đoạn ống bị sai lệch.

·     sửa sang bao hàm tu tạo lại (phục dựng) - thay thế các đoạn ống bị hư nát không thể sửa sang lại được.

Điều đã được thức nhận là mọi địa điểm và các bộ phận hợp thành đều biến đổi theo thời gian ở mức độ khác nhau.

 

Vật liệu mới có thể bao gồm những vật liệu thu hồi ở địa điểm khác được xử lý lại. Việc này không được làm tổn hại đến bất cứ một địa điểm nào có ý nghĩa văn hóa.

1.9. Thích ứng (adaptation) có nghĩa là sửa đổi một địa điểm cho thích hợp với chức năng hiện thời hoặc một chức năng trù định.

1.10. Cách sử dụng (use) có nghĩa là chức năng của một địa điểm, cũng như các hoạt động và các thực hành có thể diễn ra ở địa điểm đó.

1.11. Sử dụng thích hợp (compatible use) có nghĩa là một cách sử dụng tôn trọng ý nghĩa văn hóa của địa điểm, không gây ra một tác động gì xấu lên ý nghĩa văn hóa hoặc, nếu có, thì phải rất tối thiểu.

1.12. Khung cảnh (setting) có nghĩa là khu vực xung quanh một địa điểm, có thể bao gồm cả thị giới.

1.13. Địa điểm có liên quan (related place) có nghĩa là một địa điểm có góp phần vào ý nghĩa văn hóa của một địa điểm khác.

1.14. Đồ vật có liên quan (related object) có nghĩa là một đồ vật có góp phần vào ý nghĩa văn hóa của một địa điểm song không nằm ở cùng một địa điểm.

1.15. Các mối liên kết (associations) có nghĩa là các quan hệ đặc biệt tồn tại giữa dân chúng và một địa điểm.

1.16. Ý nghĩa (meaning) là chỉ một địa điểm có ý nghĩa gì, ngụ ý gì, gợi ra cái gì hoặc biểu thị cái gì.

1.17. Thể hiện (interpretation) có nghĩa là tất cả mọi cách giới thiệu ý nghĩa văn hóa của một địa điểm.

Nguyên tắc Bảo vệ

Điều 2. Bảo vệ và Quản lý

2.1. Các địa điểm ý nghĩa văn hoá cần phải được bảo vệ.

2.2. Mục tiêu của bảo vệ là giữ lại ý nghĩa văn hoá của địa điểm.

2.3. Bảo vệ là bộ phận hữu cơ của việc quản lý tốt các địa điểm ý nghĩa văn hóa.

2.4. Các địa điểm ý nghĩa văn hoá phải được gìn giữ, không được để những địa điểm đó bị tai hoạ hoặc

Các mối liên kết bao gồm các giá trị xã hội và tinh thần trách nhiệm về văn hóa đối với một địa điểm.

Ý nghĩa nhìn chung là liên quan đến các mặt phi hữu thể như tính chất biểu tượng và ký ức.

Thể hiện có thể là sự liên kết cách xử lý một kết cấu (thí dụ bảo quản, phục dựng, trùng tu); cách sử dụng và các hoạt động tại các địa điểm; và việc sử dụng tư liệu đưa thêm vào để giải thích.

Điều 3. Tiếp cận thận trọng

3.1. Việc bảo vệ là dựa trên sự tôn trọng đối với kết cấu, cách sử dụng, các mối liên kết ý nghĩa hiện tồn. Nó đòi hỏi một sự thận trọng chỉ thay đổi cái gì thật cần thiết song càng ít càng tốt.

3.2. Các việc sửa đổi ở một địa điểm không được bóp méo chứng tích hữu thể và các chứng tích khác có ở địa điểm, cũng không được dựa trên phỏng đoán.

Điều 4. Hiểu biết, kỹ năng và kỹ thuật

4.1. Việc bảo vệ phải sử dụng mọi hiểu biết, kỹ năng và ngành nghề nào có thể góp phần vào việc nghiên cứu và trông nom địa điểm.

4.2. Các kỹ thuật và vật liệu truyền thống cần được ưu tiên sử dụng trong việc bảo vệ ý nghĩa của kết cấu. Trong một số tình huống và dưới một số điều kiện nhất định nào đó, kỹ thuật và vật liệu hiện đại nào có lợi rõ rệt cho việc bảo vệ thì có thể tính toán để sử dụng.

Điều 5. Các giá trị

5.1. Việc bảo vệ một địa điểm phải xác định và cân nhắc mọi mặt của giá trị văn hoá và thiên nhiên, không được tuỳ tiện ưu tiên giá trị này để phương hại giá trị kia.

Những dấu vết thêm thắt, thay đổi và những cách xử lý kết cấu một địa điểm trước đó là chứng tích về lịch sử và các cách sử dụng địa điểm, và có thể là đã góp phần vào ý nghĩa văn hóa của địa điểm đó. Việc bảo vệ phải giúp hiểu biết các chứng tích đó chứ không phải là gây trở ngại.

Việc sử dụng kỹ thuật và vật liệu hiện đại phải dựa trên những cứ liệu và kinh nghiệm vững chắc.

Việc bảo vệ các địa điểm có ý nghĩa thiên nhiên đã được giải thích trong Hiến chương về Di sản thiên nhiên Australia. Hiến chương này đã xác định ý nghĩa thiên nhiên có nghĩa là tầm quan trọng của hệ sinh thái, tính đa dạng sinh học và đa dạng địa lý đối với giá trị tồn tại của địa điểm, hoặc đối với thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau về mặt giá trị khoa học, xã hội hoặc thẩm mỹ hoặc về tính thiết yếu cho cuộc sống thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau.

5.2. Các động thái bảo vệ các địa điểm có thể khác nhau tuỳ theo cấp độ ý nghĩa văn hoá tụ hội ở mỗi địa điểm.

Điều 6. Tiến trình Hiến chương Burra

6.1. Để đảm bảo việc xử lý tối ưu ý nghĩa văn hoá của một địa điểm  và những thách đố khác ảnh hưởng đến tương lai của địa điểm đó, cần tiến hành theo một chuỗi hoạt động trong đó việc thu thập và phân tích thông tin cần phải làm trước khi ra quyết định. Thấu hiểu ý nghĩa văn hóa là bước thứ nhất, rồi đến phát triển chính sách và cuối cùng là quản lý địa điểm phù hợp với chính sách.

6.2. Chính sách quản lý một địa điểm phải dựa trên sự hiểu biết ý nghĩa văn hoá của địa điểm đó.

6.3. Phát triển chính sách cũng phải bao gồm việc cân nhắc các nhân tố khác ảnh hưởng đến tương lai của địa điểm chẳng hạn như các nhu cầu của người sở hữu, các nguồn lực có trong tay, những câu thúc bên ngoài và tình trạng vật thể của địa điểm.

Điều 7. Cách sử dụng

7.1. Khi nào mà việc sử dụng một địa điểm là có ý nghĩa văn hoá thì việc sử dụng đó cần được duy trì.

7.2. Một địa điểm cần phải có một cách sử dụng thích hợp.

Vì sự hiểu biết các giá trị văn hóa có thể biến chuyển nên cần phải có một cách tiếp cận thận trọng. Điều khoản này không được dùng để biện minh cho những hành động không giữ gìn ý nghĩa văn hóa.

Tiến trình Hiến chương Burra, cũng gọi là chuỗi khảo sát, quyết định, hành động sẽ được minh họa bằng sơ đồ ở phụ lục.

Chính sách cần phải xác định một cách sử dụng hoặc một cách liên kết sử dụng hoặc những giới hạn về Sử dụng để duy trì ý nghĩa văn hóa của địa điểm. Một cách sử dụng mới chỉ được làm thay đổi ở mức tối thiểu kết cấu vật chất và các sử dụng quan trọng, phải tôn trọng các mối liên kết và các ý nghĩa, và, ở đâu có thể thì phải tạo điều kiện tiếp diễn cho những thực hành có đóng góp và có tham gia vào ý nghĩa văn hóa của địa điểm.

Điều 8. Khung cảnh

Việc bảo vệ đòi hỏi phải duy trì một khung cảnh thị giới thoả đáng và những mối quan hệ khác có đóng góp cho ý nghĩa văn hoá của địa điểm.

 Xây dựng mới, phá sụp đổ, xâm chiếm hoặc những thay đổi khác làm hạ thấp giá trị của khung cảnh hoặc các mối quan hệ đều là không thích hợp.

Điều 9. Vị trí

9.1. Vị trí hữu thể của một địa điểm là bộ phận ý nghĩa văn hóa của địa điểm đó. Một toà nhà, một công trình xây dựng hoặc một bộ phận cấu thành của một địa điểm phải được giữ nguyên ở vị trí lịch sử của nó. Chuyển dời vị trí nhìn chung là không chấp nhận được trừ phi đó là biện pháp thực tiễn duy để đảm sự sống còn của nó.

9.2. Một số toà nhà, công trình xây dựng hoặc các cấu thành khác của các địa điểm vốn có thể đã được thiết kế để sẵn sàng di chuyển hoặc đã từng được di chuyển trong dòng lịch sử của chúng. Việc di chuyển những công trình này là thích đáng nếu chúng không có quan hệ gì có ý nghĩa với vị trí hiện thời của chúng.

9.3. Nếu một toà nhà, công trình xây dựng hoặc bộ phận cấu thành nào đó phải chuyển dời, thì nó phải được chuyển đến một vị trí thích hợp và tạo cho nó một cách sử dụng phù hợp với giá trị của nó. Một quyết định như vậy phải không làm phương hại cho bất kỳ một địa điểm nào có ý nghĩa văn hóa.

Điều 10. Đồ đạc (contents)

Đồ đạc, vật cố định, đồ vật rời có góp phần vào ý nghĩa văn hóa một địa điểm phải được giữ nguyên tại chỗ. Việc di chuyển chúng là không được chấp nhận trừ phi đó là biện pháp duy nhất để đảm bảo an toàn và bảo tồn chúng, là tạm thời để xử lý hoặc trưng bày, vì những lý do văn hóa, vì sức khỏe và an toàn, hoặc để bảo vệ địa điểm. Những thứ đó phải được trả về chỗ cũ khi tình thế cho phép, việc này là thích đáng về mặt văn hóa.

Điều 11. Địa điểm và đồ vật có liên quan

Sự đóng góp của các địa điểm có liên quan và các đồ vật liên quan vào ý nghĩa văn hóa của một địa điểm cần phải được duy trì.

Khung cảnh thị giới có thể bao gồm cách sử dụng, cách chọn vị trí, hình khối, tỷ lệ, tính chất, màu sắc, kết cấu và vật liệu. Các mối quan hệ khác, chẳng hạn như các mối liên quan lịch sử, có thể góp phần lý giải, đánh giá, làm hứng thú hoặc hiểu sâu địa điểm hơn.

Điều 12. Sự tham gia

Việc bảo vệ, thể hiện và quản lý một địa điểm phải trù tính để có sự tham gia của những người có những mối liên kết đặc biệt với địa điểm có những ý nghĩa đặc biệt đối với họ, hoặc những người có trách nhiệm về xã hội, tinh thần hoặc về văn hóa ở một phương diện nào đó đối với địa điểm.

Điều 13. Sự cộng sinh của các giá trị văn hóa

Sự cộng sinh của các giá trị văn hóa phải được công nhận, tôn trọng và khuyến khích, đặc biệt trong trường hợp các giá trị đó có sự xung đột nhau.

Tiến trình bảo vệ

Điều 14. Tiến trình bảo vệ

Việc bảo vệ, tùy theo tình huống, có thể bao gồm các quá trình: duy trì hoặc phục hồi một cách sử dụng; duy trì các mối liên kếtcác ý nghĩa; bảo quản, bảo tồn, trùng tu, thích ứng thể hiện; và thông thường bao gồm sự phối hợp vài ba thao tác đó với nhau.

Điều 15. Thay đổi

15.1. Việc thay đổi có thể là cần thiết để gìn giữ ý nghĩa văn hóa, song sẽ là không được mong đợi nếu nó làm giảm ý nghĩa văn hóa. Khối lượng thay đổi đối với một địa điểm phải tùy thuộc vào ý nghĩa văn hóa của địa điểm đó và cách thể hiện thích đáng địa điểm đó.

15.2. Những thay đổi mà làm giảm ý nghĩa văn hóa phải có tính đảo ngược được, và sẽ được đảo ngược lại khi tình thế cho phép.

 

15.3. Phá hủy kết cấu có ý nghĩa của một địa điểm nói chung là không được chấp nhận. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, những phá bỏ nho nhỏ có thể được dự tính trong khuôn khổ để bảo vệ địa điểm. Việc dỡ bỏ kết cấu có ý nghĩa phải được phục dựng lại khi tình thế cho phép.

15.4. Những đóng góp mọi mặt vào ý nghĩa văn hóa của một địa điểm cần phải được tôn trọng. Nếu một địa điểm bao gồm kết cấu, cách sử dụng, các mối liên

Trong một số trường hợp, các giá trị văn hóa xung đột nhau có thể ảnh hưởng đến chính sách phát triển và các quyết định quản lý trong điều khoản này, từ ngữ giá trị văn hóa là để chỉ những tín ngưỡng quan trọng đối với một nhóm văn hóa bao gồm, song không chỉ giới hạn ở lòng tin chính trị, tôn giáo, tinh thần, đạo lý. Cho nên, từ ngữ đó có ý nghĩa rộng lớn hơn các giá trị gắn với ý nghĩa văn hóa.

Cũng có thể có trường hợp không cần một thao tác nào để thực hiện bảo vệ.

Khi cần phải thay đổi, thăm dò một loạt các phương thức để chọn ra một phương thức nào làm giảm ý nghĩa văn hóa ít nhất.

Những thay đổi đảo ngược được phải được coi như là tạm thời. Thay đổi không đảo ngược chỉ được dùng như là phương sách cuối cùng và không được làm cản trở hành động bảo vệ sau này.

Điều 16. Bảo quản

Bảo quản là nền tảng cho bảo vệ và phải được tiến hành ở nơi nào mà kết cấu có ý nghĩa văn hóa và việc bảo quản kết cấu đó là cần thiết để gìn giữ ý nghĩa văn hóa.

Điều 17. Bảo tồn

Bảo tồn là thích đáng ở nơi nào mà kết cấu hiện tồn hoặc tình trạng kết cấu đó cung cấp chứng tích về ý nghĩa văn hóa, hoặc ở nơi nào không đủ chứng tích vật chất để có thể tiến hành các phương pháp bảo vệ khác.

Điều 18. Phục dựng và Trùng tu

Phục dựng và Trùng tu phải làm nổi bật các mặt có ý nghĩa văn hóa của địa điểm.

Điều 19. Trùng tu

Trùng tu chỉ thích đáng khi có đầy đủ bằng chứng về tình trạng trước đó của kết cấu.

Điều 20. Phục dựng

20.1. Phục dựng chỉ thích đáng khi một địa điểm không còn nguyên vẹn do bị hư hỏng hoặc bị biến đổi, và chỉ khi nào có đầy đủ bằng chứng để tái tạo ra tình trạng trước kia của kết cấu. Trong những trường hợp hiếm hoi, phục dựng cũng có thể là thích đáng coi như đó là thể hiện một cách sử dụng hoặc một việc làm thực tiễn để gìn giữ ý nghĩa văn hóa của địa điểm.

Bảo tồn là bảo vệ kết cấu mà không làm lộn xộn rối rắm vết tích của xây dựng hoặc của cách sử dụng. Biện pháp này phải luôn áp dụng:

·     Khi chứng tích kết cấu là quan trọng đến múc không được biến đổi đi.

·     Khi các cuộc khảo sát đã được tiến hành không đủ cơ sở để có những quyết định phù hợp với Điều 26 và 28.

Những công việc mới (thí dụ gia cố) có thể được tiến hành liên kết với việc bảo vệ khi mục đích những việc mới đó là nhằm bảo vệ hình  thể kết cấu và khi những việc đó là phù hợp với Điều 22.

20.2. Phục dựng phải phân biệt được khi kiểm tra gần hoặc thông qua cách thể hiện phụ.

Điều 21. Thích ứng

21.1. Thích ứng có thể được chấp nhận chỉ khi sự thích ứng đó có tác động rất nhỏ nhoi lên ý nghĩa văn hóa của địa điểm.

21.2. Việc thích ứng chỉ được thực hiện sau khi đã suy xét nhiều phương án và chỉ được gây rất ít thay đổi cho kết cấu có ý nghĩa.

Điều 22. Công trình mới

22.1. Những công trình mới, chẳng hạn như các bộ phận làm thêm vào địa điểm có thể được chấp nhận nếu những thêm thắt đó không làm sai lệch hoặc mờ mịt ý nghĩa văn hóa của địa điểm hoặc không làm giảm cách thể hiện và đánh giá.

22.2. Những công trình mới phải được nhận ra dễ dàng.

Điều 23. Bảo vệ cách sử dụng

Tiếp tục duy trì, thay đổi hoặc phục hồi một cách sử dụng có ý nghĩa có thể là thích đáng, kể cả những hình thức bảo vệ khả quan.

Điều 24. Duy trì các mối liên kết và các ý nghĩa

24.1. Những mối liên kết có ý nghĩa giữa dân chúng và một địa điểm phải được tôn trọng, gìn giữ và không được làm rối rắm, phải tìm cơ hội để thể hiện, kỷ niệm và chào mừng những mối liên kết đó.

24.2. Những ý nghĩa quan trọng bao gồm các giá trị tinh thần, của một địa điểm phải được tôn trọng. Phải tìm cơ hội để tiếp tục duy trì hoặc làm sống dậy các ý nghĩa đó.

Điều 25. Thể hiện

Ý nghĩa văn hóa của nhiều địa điểm không dễ gì thấy rõ cho nên cần phải được giải thích bằng cách thể hiện. Việc thể hiện phải nâng cao được hiểu biết và lòng thích thú, và phải thích đáng về mặt văn hóa.

Thực hành bảo vệ

Thích ứng có thể bao hàm việc du nhập những dịch vụ mới, hoặc một cách sử dụng mới, hoặc những thay đổi để bảo vệ giữ gìn địa điểm.

Công trình mới có thể được đồng tình nếu việc định vị, khối hình, tỷ lệ, tính chất, màu sắc, kết cấu và vật liệu là tương tự như kết cấu hiện tồn song cần phải tránh sao chép.

Những việc này có thể đòi hỏi phải có những thay đổi kết cấu có ý nghĩa, song phải rất tối thiểu. Trong một số trường hợp, tiếp tục duy trì một cách sử dụng hoặc những hành sự có ý nghĩa có thể bao hàm việc làm thêm những công trình mới quan trọng.

Ở nhiều nơi các mối liên kết sẽ được gắn với việc sử dụng.

Điều 26. Áp dụng tiến trình Hiến chương Burra

26.1. Trước khi tiến hành các công trình ở một địa điểm cần phải nghiên cứu để hiểu địa điểm đó, bao gồm phân tích các bằng chứng vật chất, tư liệu, truyền miệng..., phải dựa trên kiến thức, kỹ năng và các ngành thích hợp.

26.2. Những công bố bằng văn bản về ý nghĩa văn hóa và chính sách đối với địa điểm phải được chuẩn bị đầy đủ cứ liệu có xác minh và kèm theo bằng chứng hỗ trợ. Các công bố đó phải được đưa vào kế hoạch quản lý địa điểm.

26.3. Các nhóm và cá nhân có mối liên kết với một địa điểm cũng như các nhóm và cá nhân có chân trong việc quản lý phải được tạo cơ hội để góp phần và tham gia vào việc tìm hiểu ý nghĩa văn hóa của địa điểm. Ở đâu thích hợp thì họ phải được có cơ hội tham gia vào việc bảo vệ và quản lý.

Điều 27. Quản lý việc thay đổi

27.1. Tác động của các thay đổi được dự kiến đối với ý nghĩa văn hóa của một địa điểm phải được phân tích theo công bố và chính sách quản lý địa điểm. Những thay đổi đó khi cần thiết có thể sửa đổi sau khi đã phân tích để gìn giữ được tốt hơn ý nghĩa văn hóa.

27.2. Kết cấu, cách sử dụng, các mối liên kếtý nghĩa hiện tồn phải được lập hồ sơ đầy đủ trước khi tiến hành bất kỳ một thay đổi nào đối với địa điểm.

Điều 28. Xáo trộn kết cấu

28.1. Việc xáo trộn kết cấu có ý nghĩa để nghiên cứu, hoặc để có bằng chứng phải được hạn chế tối đa. Việc nghiên cứu kết cấu bằng xáo trộn, kể cả khai quật khảo cổ, chỉ được tiến hành để thu thập được những dữ kiện cốt yếu cho những quyết định về bảo vệ địa điểm, hoặc để có được bằng chứng quan trọng về những gì sẽ mất hoặc sẽ không tiếp xúc được.

28.2. Ngoài những nghiên cứu cần thiết để ra quyết định, thì những cuộc khảo sát khác đòi hỏi phải xáo trộn kết cấu cũng có thể được tiến hành miễn là phải phù hợp với chính sách đối với địa điểm. Những khảo sát này phải nhằm đáp ứng các yêu cầu nghiên cứu quan trọng có khả năng bổ sung thật sự cho nhận thức về địa điểm, mà nếu không tiến hành thì không có cách nào giải đáp, tuy nhiên khi tiến hành phải hạn chế ở mức tối thiểu sự xáo trộn kết cấu có ý nghĩa.

Kết quả nghiên cứu phải cập nhật, thường xuyên được xem xét lại và sửa đổi nếu cần thiết.

Các công bố về ý nghĩa và chính sách phải được cập nhật và thường xuyên xem xét lại, sửa chữa nếu cần thiết. Kế hoạch quản lý có thể đề cập đến những vấn đề khác liên quan đến việc quản lý địa điểm.

Điều 29. Trách nhiệm đối với các quyết định

Những tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về các quyết định quản lý phải được xác định rõ ràng tên người, tên tổ chức và trách nhiệm cụ thể đối với từng quyết định .

Điều 30. Chỉ đạo, giám sát và thực hiện

Trong tất cả mọi quy trình bảo vệ cần phải có sự chỉ đạo và giám sát có đủ khả năng, và mọi thay đổi phải được thực thi bởi những người có kiến thức và kỹ năng thích đáng.

Điều 31. Lập hồ sơ về chứng tích và quyết định

Mọi dấu vết phát hiện và các quyết định bổ sung phải được ghi vào nhật ký khảo sát.

Điều 32. Hồ sơ

32.1. Các hồ sơ liên quan tới việc bảo vệ một địa điểm phải được đặt thường xuyên ở bộ phận lưu trữ để cho công chúng có thể tiếp xúc được, song phải đảm bảo an toàn và không bị xáo trộn, và đặt ở nơi nào thích hợp về văn hóa.

32.2. Các hồ sơ về lịch sử một địa điểm phải được bảo vệ và để cho công chúng có thể tiếp xúc được, đảm bảo được an toàn và không bị xáo trộn, và đặt ở nơi nào thích hợp về văn hóa.

Điều 33. Kết cấu bị di dời

Kết cấu có ý nghĩa bị di dời khỏi một địa điểm, bao gồm đồ đạc bên trong, bộ phận cố định và các đồ vật rời phải được liệt kê thành loại và bảo vệ phù hợp với ý nghĩa văn hóa của chúng.

Nếu có thể và thỏa đáng về mặt văn hóa, các vật phẩm đó nên được giữ tại chỗ.

Điều 34. Nguồn lực

Cần phải cung cấp nguồn lực thỏa đáng cho việc bảo vệ.

Những chữ in nghiêng là đã được định nghĩa trong Điều 1.

Việc bảo vệ tốt nhất thường là nên ít can thiệp vào kết cấu và có thể là ít tốn kém nhất.

 

 

Trở về